TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẠT CHUẨN - ĐIỂM NHẤN QUAN TRỌNG TRONG VIỆC KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CỦA TỈNH TRONG VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2 CẤP
Trần Văn Dư – Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng
Tóm tắt: Xây dựng Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi đạt chuẩn là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Việc xây dựng Trường Chính trị đạt chuẩn không những là quá trình hoàn thiện các tiêu chí theo quy định mà còn khẳng định vị trí, vai trò của Nhà trường với tư cách là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nhất là chính quyền địa phương trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Từ khóa: Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi; Trường Chính trị đạt chuẩn; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ; chính quyền địa phương 2 cấp.
I. Đặt vấn đề
Trong tiến trình đổi mới và hoàn thiện bộ máy của hệ thống chính trị, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín là một trong những yếu tố then chốt, góp phần quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước. Đặc biệt, đối với tỉnh Quảng Ngãi – địa phương đang đẩy mạnh sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh gọn biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (cấp tỉnh và cấp xã) – yêu cầu đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngày càng cao và cấp thiết, nhất là trong việc trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp công tác đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở cơ sở.
Sự kiện Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi được công nhận đạt chuẩn mức 1 theo quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Đề án của Ban Thường vụ Tỉnh ủy không chỉ là một dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển Nhà trường, mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc khẳng định vị trí, vai trò của Trường Chính trị với tư cách là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh. Đây là cơ sở để Nhà trường tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong hệ thống chính trị, nhất là yêu cầu vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp trong giai đoạn hiện nay.
II. Nội dung
1. Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi đạt chuẩn mức 1 – dấu mốc quan trọng, có ý nghĩa chiến lược
Sau 5 năm triển khai Quy định số 11-QĐ/TW ngày 19/5/2021 của Ban Bí thư (nay là Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026) và Đề án số 01-ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi đã tạo được những dấu ấn nổi bật trong lộ trình xây dựng trường chuẩn ở tất cả các nhóm tiêu chí, từ thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ giảng viên, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học đến cơ sở vật chất và văn hóa trường Đảng.
Về hoàn thiện thể chế, đổi mới quản trị nhà trường: Để hoàn thành các tiêu chí của Quy định số 396-QĐ/TW, trước hết phải bắt đầu từ đổi mới thể chế, tư duy quản trị nhà trường. Với nhận thức đó, Đảng ủy đã ban hành Nghị quyết chuyên đề số 02-NQ/ĐU, xác định hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa quy trình quản lý và đổi mới phương thức điều hành là khâu đột phá, tạo nền tảng để triển khai đồng bộ các nhóm tiêu chí còn lại. Trên cơ sở đó, Nhà trường đã ban hành 44 văn bản còn hiệu lực, trong đó có 24 văn bản được ban hành sau ngày 01/7/2025, điều chỉnh các mặt công tác như: tổ chức bộ máy, quản lý và bổ nhiệm viên chức, đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, thi đua - khen thưởng, quản lý tài chính, tài sản, chuyển đổi số, công tác dân chủ ở cơ sở, công tác bảo vệ bí mật nhà nước, đánh giá KPI đối với viên chức.
Bên cạnh đó, Trường đã chủ động tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành nhiều chủ trương, cơ chế và đề án quan trọng phục vụ xây dựng trường chuẩn. Các đề án về xây dựng trường đạt chuẩn mức 1, định hướng đạt chuẩn mức 2, vị trí việc làm, phát triển đội ngũ giảng viên, cử giảng viên nghiên cứu thực tế có kỳ hạn, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức... đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ, giúp Nhà trường chủ động triển khai các nhiệm vụ chiến lược trong xây dựng Trường chuẩn.
Hệ thống thể chế này đã tạo ra sự thay đổi căn bản về tư duy quản lý; chuyển từ chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quản lý sang vận hành theo nguyên tắc quản trị bằng quy trình, phân công rõ trách nhiệm, tăng cường kiểm tra, giám sát và lượng hóa kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đây chính là nền tảng để mọi hoạt động của Nhà trường được triển khai thống nhất, minh bạch, kiểm soát chất lượng, làm cơ sở để nâng cao chất lượng quản trị, điều hành của Nhà trường.
Về tổ chức bộ máy, biên chế và hoạt động của đội ngũ cán bộ, viên chức: Nhà trường hiện có 55 viên chức, trong đó 100% cán bộ, giảng viên đều đạt và vượt các tiêu chuẩn về chức danh nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, lý luận chính trị. Trong đó, Ban Giám hiệu có 04 đồng chí (01 đồng chí có trình độ tiến sĩ, 02 đồng chí đã bảo vệ luận án tiến sĩ cấp cơ sở, 01 đồng chí đang là nghiên cứu sinh). Đội ngũ trưởng khoa, phó trưởng khoa có 100% lãnh đạo khoa có trình độ thạc sĩ trở lên, trong đó có 01 trưởng khoa là tiến sĩ (vượt 14,3% so với quy định), 01 phó trưởng khoa đang bảo vệ luận án tiến sĩ, 01 trưởng khoa đang là nghiên cứu sinh; 100% có trình độ cao cấp lý luận chính trị và giữ ngạch giảng viên chính; 100% lãnh đạo phòng đạt trình độ thạc sĩ, cao cấp lý luận chính trị, giữ ngạch chuyên viên chính/giảng viên chính. Về trình độ chuyên môn, 100% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ trở lên (41/41 đồng chí), trong đó có 03 tiến sĩ và 11 đồng chí là nghiên cứu sinh (vượt 11,1%).
Về nâng tầm uy tín và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng: Nhà trường đã triển khai đầy đủ các chương trình đào tạo lý luận chính trị và bồi dưỡng cán bộ theo chức năng, nhiệm vụ, bám sát các quy định, hướng dẫn của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Nội vụ, các quy chế, hướng dẫn của Tỉnh ủy. Giai đoạn 2021–2025, Trường đã thực hiện đào tạo 78 lớp Trung cấp lý luận chính trị (4.332 học viên) và 336 lớp bồi dưỡng (23.336 học viên). Nhà trường chủ động tham mưu và trực tiếp chủ trì biên soạn các chương trình phù hợp với thực tiễn địa phương. Nổi bật là việc xuất bản 02 tập bài giảng “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương” cùng các tài liệu nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã, tổ trưởng tổ dân phố như Kỹ năng lãnh đạo, quản lý của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tỉnh Quảng Ngãi; Kỹ năng lãnh đạo, quản lý của Bí thư, Phó Bí thư chi bộ, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng thôn.
Trong quá trình xây dựng trường đạt chuẩn mức 1, Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi không lựa chọn cách tiếp cận đơn thuần là mở rộng quy mô đào tạo nhằm đáp ứng chỉ tiêu, mà kiên trì thực hiện quan điểm lấy chất lượng đào tạo, bồi dưỡng làm mục tiêu xuyên suốt, lấy đổi mới phương pháp giảng dạy, gắn lý luận với thực tiễn và nâng cao hiệu quả học tập của học viên làm thước đo của quá trình phát triển. Việc được công nhận đạt chuẩn mức 1 là sự ghi nhận đối với những kết quả Nhà trường đạt được trong xây dựng và phát triển toàn diện, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng. Học viên khi theo học tại trường được tiếp cận với chương trình được cập nhật, phương pháp giảng dạy đổi mới và môi trường sư phạm chuẩn mực.
Về tạo động lực đổi mới tư duy trong hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn: Đạt chuẩn đòi hỏi đội ngũ giảng viên không chỉ vững về lý luận mà phải am hiểu thực tiễn, đóng góp tích cực vào việc tổng kết thực tiễn, tham mưu xây dựng, hoạch định chính sách cho địa phương.
Trong giai đoạn 2021–2025, Trường đã tổ chức nghiên cứu và nghiệm thu 30 đề tài cấp trường, trung bình 06 đề tài/năm (vượt 100% so với quy định tối thiểu 03 đề tài/năm). Đối với nhiệm vụ cấp tỉnh, Trường đã chủ trì tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy phê duyệt 03 đề án quan trọng và thực hiện 01 đề tài cấp tỉnh. Nhà trường tổ chức thành công 27 hội thảo, tọa đàm cấp trường, trung bình trên 05 cuộc/năm (vượt 80% so với định mức tối thiểu). Ở cấp tỉnh, Trường phối hợp tổ chức 08 hội thảo khoa học, tiêu biểu là các hội thảo góp ý văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI (vượt 167% so với quy định). Công tác xuất bản các sản phẩm trí tuệ đạt kết quả tích cực với 08 cuốn sách được phát hành (bao gồm 06 sách chuyên khảo và 02 kỷ yếu hội thảo cấp tỉnh có mã số ISBN), vượt 60% so với quy định. Bản tin “Thông tin lý luận và thực tiễn” xuất bản tổng cộng 28 kỳ, bình quân đạt 5–6 kỳ/năm, vượt 86,7%. Toàn trường đã công bố 342 bài báo khoa học, trong đó có 89 bài đăng tạp chí và 253 bài đăng bản tin.
Về xây dựng văn hóa trường Đảng, thực hiện kỷ luật, kỷ cương: Xây dựng môi trường văn hóa trường Đảng kiểu mẫu với kỷ cương, văn minh, hiện đại tại trường là nơi rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, công chức.
Trong những năm qua, Nhà trường đã triển khai nghiêm túc, hiệu quả việc học tập và làm theo Bác gắn với thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Việc xây dựng kế hoạch được thực hiện hằng năm, bảo đảm tính đồng bộ và phù hợp với nhiệm vụ chính trị của đơn vị; 100% viên chức tham gia và thực hiện tốt, tạo sự chuyển biến rõ nét về nhận thức và hành động. Hoạt động này không chỉ được duy trì thường xuyên mà còn đạt kết quả thiết thực, thông qua các thành tích khen thưởng tiêu biểu, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ và củng cố kỷ luật, kỷ cương trong toàn trường.
Về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và tài chính: Việc đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất tạo nền tảng cho đổi mới, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng đào tạo.
Sau khi hợp nhất, Nhà trường hiện quản lý 02 cơ sở với tổng diện tích sử dụng đạt 32.838 m2, đáp ứng chuẩn mức 1 và tạo tiền đề hướng đến chuẩn mức 2 theo quy định. Hạ tầng đồng bộ, hiện đại, trong đó: Cơ sở 1 có diện tích 21.668 m2 với hội trường 350 chỗ hiện đại và nhà đa năng; Cơ sở 2 tại phường Kon Tum có diện tích 11.170 m2 với đầy đủ khu hiệu bộ, giảng đường và ký túc xá. Không gian và cảnh quan đáp ứng yêu cầu “Xanh - Sáng - Sạch - Đẹp”, không chỉ bảo đảm công năng mà còn tạo dựng môi trường sư phạm chuẩn mực, mang đậm bản sắc trường Đảng. Các phần mềm chuyên dụng như quản lý đào tạo (LMS và SIS), quản lý tài chính - kế toán đã được đưa vào vận hành, tạo nền tảng ban đầu cho công tác chuyển đổi số. Thư viện duy trì hàng trăm đầu sách chuyên sâu về khoa học chính trị và quản lý nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu nghiên cứu của giảng viên và học viên.
Cơ sở vật chất là điều kiện quan trọng để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và xây dựng trường chính trị chuẩn. Với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi đã từng bước đầu tư, hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng các tiêu chí quy định tại Quy định số 396-QĐ/TW.
Việc kết hợp hài hòa giữa đầu tư hạ tầng vật chất với phát triển hạ tầng công nghệ đã tạo điều kiện để đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý và tổ chức các hoạt động chuyên môn. Đây là cơ sở quan trọng để Nhà trường tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và nâng cao chất lượng.
2. Điểm nhấn về công tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp
2.1. Khẳng định chất lượng thực chất của trường chính trị chuẩn về công tác đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là chức năng trung tâm, đồng thời là tiêu chí quan trọng phản ánh chất lượng và hiệu quả hoạt động của trường chính trị. Vì vậy, trong quá trình xây dựng trường đạt chuẩn mức 1, Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi không lựa chọn cách tiếp cận đơn thuần là mở rộng quy mô đào tạo nhằm đáp ứng chỉ tiêu, mà kiên trì thực hiện quan điểm lấy chất lượng đào tạo, bồi dưỡng làm mục tiêu xuyên suốt, lấy đổi mới phương pháp giảng dạy, gắn lý luận với thực tiễn và nâng cao hiệu quả học tập của học viên làm thước đo của quá trình phát triển.
Nhà trường cũng thường xuyên thực hiện việc khảo sát mức độ hài lòng của học viên đối với chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và công tác quản lý đào tạo. Kết quả khảo sát không chỉ là căn cứ để cải tiến chất lượng đào tạo mà còn từng bước hình thành văn hóa bảo đảm chất lượng trong toàn Trường. Việc coi ý kiến phản hồi của học viên là một kênh thông tin quan trọng để điều chỉnh hoạt động chuyên môn phản ánh tư duy quản trị cầu thị, lấy chất lượng và hiệu quả đào tạo làm trung tâm.
2.2. Đổi mới công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn nhằm khẳng định vai trò trung tâm nghiên cứu lý luận và thực tiễn của địa phương
Nếu đào tạo, bồi dưỡng là chức năng trung tâm thì nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn là lĩnh vực thể hiện chiều sâu học thuật của trường chính trị. Xuất phát từ nhận thức đó, Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi xác định nghiên cứu khoa học không phải là hoạt động mang tính bổ trợ mà là một trong ba trụ cột phát triển của Nhà trường, gắn chặt với đào tạo, bồi dưỡng và tổng kết thực tiễn. Đảng ủy và Ban Giám hiệu đã ban hành nhiều giải pháp vừa khuyến khích, vừa đặt ra yêu cầu, chỉ tiêu KPI cho giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học. Nhờ vậy, nghiên cứu khoa học là lĩnh vực có nhiều chuyển biến tích cực trong quá trình xây dựng Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi đạt chuẩn.
Điều này phản ánh sự chuyển biến rõ nét về nhận thức và năng lực nghiên cứu của đội ngũ cán bộ, giảng viên; đồng thời khẳng định nghiên cứu khoa học đã thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng đào tạo và vị thế học thuật của Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn vừa qua. Từ đó, Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi cũng đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh tin tưởng, giao nhiệm vụ nghiên cứu và tham vấn nhiều chính sách lớn của địa phương; lãnh đạo, viên chức của Trường được cơ cấu vào nhiều ban biên soạn đề án, chính sách lớn của tỉnh…
2.3. Đạt chuẩn mức 1, khẳng định vai trò trung tâm đào tạo, bồi dưỡngcán bộ duy nhất của tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu cán bộ cấp cơ sở (cấp xã) để nâng cao năng lực quản lý nhà nước và tư duy vận dụng ngang tầm nhiệm vụ mới
Chuẩn hóa trình độ lý luận chính trị và quản lý nhà nước cho cấp cơ sở: Cấp xã là nơi tiếp xúc trực tiếp với Nhân dân, giải quyết các công việc phát sinh từ thực tiễn. Nhà trường đã chủ động điều chỉnh chương trình, phương pháp bồi dưỡng gắn với yêu cầu thực tiễn ở cơ sở, giúp cán bộ cấp xã nâng cao kỹ năng xử lý tình huống, quản trị địa phương và vận động quần chúng.
Cập nhật kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ quản lý: Thông qua các khóa bồi dưỡng ngắn hạn về chuyển đổi số, quản trị công hiện đại, kỹ năng lãnh đạo và cải cách hành chính, Nhà trường góp phần giúp đội ngũ cán bộ các cấp chủ động thích ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới.
Gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn địa phương: Nhà trường đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết các mô hình hay, cách làm sáng tạo tại các địa phương trong tỉnh để vận dụng vào nội dung giảng dạy, bồi dưỡng, giúp bài giảng luôn bám sát thực tiễn và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ngãi.
3. Giải pháp phát huy vị thế trung tâm đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn trong thời gian tới
Để giữ vững kết quả đạt chuẩn và phát huy vai trò trung tâm đào tạo, bồi dưỡng của tỉnh, Nhà trường cần tập trung thực hiện một số định hướng lớn:
Thứ nhất, Tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
Đẩy mạnh đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị; cung cấp cho đội ngũ giảng viên kiến thức, phương pháp tiếp cận về chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Chủ động nghiên cứu, cập nhật những vấn đề lý luận và thực tiễn mới về chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội; khuyến khích giảng viên nghiên cứu, khảo sát, đi thực tế tại các địa phương, cơ sở để tích lũy kinh nghiệm thực tiễn.
Thứ hai, Xây dựng kế hoạch tổng thể về đào tạo, bồi dưỡng một cách khoa học và thực tiễn.
Để xây dựng kế hoạch tổng thể về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ một cách khoa học và thực tiễn, Nhà trường cần chuyển từ đào tạo theo năng lực cung ứng sang đào tạo theo nhu cầu thực tế, vị trí việc làm, đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. Muốn vậy, Nhà trường cần phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy và Sở Nội vụ để xây dựng cơ sở dữ liệu về độ tuổi, trình độ, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng và quy hoạch cán bộ của địa phương cả ngắn hạn và dài hạn để xác định khoảng trống về năng lực của cán bộ. Đánh giá trực tiếp khoảng cách giữa năng lực hiện tại của đội ngũ cán bộ với yêu cầu nhiệm vụ mới, như: năng lực quản trị số, xử lý các vấn đề phức tạp về chính trị - xã hội, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn.
Xây dựng kế hoạch phải xác định mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể theo định hướng chiến lược, tránh chồng chéo trong quá trình thực hiện. Kế hoạch phải khoa học, rõ ràng theo từng nhóm đối tượng cán bộ (cán bộ lãnh đạo, quản lý đương nhiệm, cán bộ diện quy hoạch, công chức nguồn). Đồng thời, bảo đảm tỷ trọng giữa đào tạo dài hạn (lý luận chính trị) và bồi dưỡng ngắn hạn (cập nhật kiến thức, kỹ năng theo vị trí việc làm).
Thứ ba, Tiếp tục đổi mới phương thức, nội dung và phương pháp giảng dạy.
Tiếp tục thực hiện việc đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị cấp cơ sở. Nội dung bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và yêu cầu thực tiễn địa phương. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu chuyên sâu các lĩnh vực kinh tế phù hợp với yêu cầu thực tiễn; đồng thời phải bảo đảm trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng, nâng cao năng lực nghiên cứu, cập nhật các lĩnh vực về phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các mô hình kinh tế mới, như: kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, kinh tế xanh…
Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cần tiếp tục đổi mới theo hướng nâng cao năng lực, phát huy tính chủ động của học viên, thực hiện mô hình giảng viên và học viên đồng kiến tạo tri thức trong quá trình dạy và học. Xây dựng nội dung giảng dạy theo hướng mở, tích hợp công nghệ thông tin, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, chú trọng tính thực tiễn trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng học viên nhằm nâng cao kỹ năng xử lý tình huống. Mời các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế, chính trị hỗ trợ, định hướng và đánh giá các chuyên đề nghiên cứu. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy; áp dụng các phương pháp tương tác, thảo luận nhóm, giải quyết tình huống thực tế nhằm phát huy tính tích cực của học viên.
Thứ tư, Xây dựng và hình thành mạng lưới các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia, phát huy vai trò tư vấn, phản biện chính sách cho tỉnh.
Cần có cơ chế, chính sách tạo điều kiện để đội ngũ giảng viên tham gia học tập và nghiên cứu các mô hình tiến bộ trong và ngoài nước, nhằm tiếp thu, vận dụng một cách có chọn lọc, bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội và ổn định chính trị. Đây là lực lượng nòng cốt trong nghiên cứu khoa học, bởi họ là những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu và đáp ứng các yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng, bên cạnh đó giúp đội ngũ giảng viên cập nhật những kỹ năng làm việc mới, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Đồng thời, khai thác tối đa năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên để cung cấp các luận cứ khoa học cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội và hoàn thiện, vận hành hiệu quả chính quyền địa phương 2 cấp.
Thứ năm, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát và đánh giá, nghiệm thu kết quả nghiên cứu của đội ngũ giảng viên một cách khoa học, khách quan. Tăng cường công tác đánh giá chất lượng trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng để bảo đảm chương trình, kế hoạch được thực hiện hiệu quả, khách quan và đúng quy định.
III. Kết luận
Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi đạt chuẩn không chỉ đánh dấu kết quả quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển Nhà trường mà còn là dấu ấn quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tỉnh. Trong bối cảnh xây dựng và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đòi hỏi sự tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả, Nhà trường tiếp tục khẳng định vai trò là “máy cái” – nơi đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ của tỉnh. Đây chính là nền tảng quan trọng để Quảng Ngãi thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Bí thư (2026), Quy định số 396-QĐ/TW, ngày 06/01/2026 về trường chính trị chuẩn.
2. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi (2025), Đề án số 01-ĐA/TU ngày 23/9/2025 về xây dựng Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi đạt chuẩn mức 1 vào năm 2026, định hướng đạt chuẩn mức 2 vào năm 2032.
3. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
6. Đỗ Tất Cường (2026), Bối cảnh mới và những yêu cầu đặt ra đối với năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố (bài viết trong Hội thảo khoa học cấp Bộ “Giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị trong bối cảnh mới”, tháng 4-2026).
7. Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi (2026), Báo cáo số 52-BC/TCT ngày 28/4/2026 tự đánh giá trường chính trị đạt chuẩn mức 1.