NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIỆC QUÁN TRIỆT, THỰC HÀNH CHỈ THỊ SỐ 07-CT/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ “ĐẨY MẠNH HỌC TẬP, THỰC HÀNH TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHƯƠNG PHÁP, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH” TẠI CÁC CHI BỘ THUỘC ĐẢNG BỘ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH QUẢNG NGÃI
TS Ngô Hoàng Anh và ThS Lương Hải Thiện
Khoa Lý luận cơ sở
Tóm tắt: Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã tạo những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tuy nhiên, trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Bài viết tập trung làm rõ những điểm mới của Chỉ thị 07, một số nội dung cơ bản của phương pháp Hồ Chí Minh và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quán triệt, thực hành tại các chi bộ thuộc Đảng bộ Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi.
Từ khóa: Chỉ thị mới, các chi bộ, học tập, thực hành, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, giải pháp…
1. Sự cần thiết ban hành Chỉ thị mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta, Đảng ta một di sản tinh thần vô giá được kết tinh qua suốt chiều dài lịch sử đấu tranh cách mạng, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn thúc đẩy công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Di sản đó bao gồm cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách của Hồ Chí Minh.
Sau mười năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, việc học tập và làm theo Bác ở nước ta đã tạo nên những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Bộ Chính trị cũng thẳng thắn chỉ ra rằng: việc học tập và làm theo Bác ở một số nơi vẫn còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, chưa tạo được chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động; đặc biệt, chưa chú trọng đúng mức việc vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh và phát huy tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.
Để khắc phục những hạn chế đó, ngày 13 tháng 7 năm 2026, Bộ Chính trị khóa XIV đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Việc ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW (sau đây gọi tắt là Chỉ thị 07) đánh dấu một bước phát triển quan trọng về mặt tư duy chỉ đạo của Đảng, chuyển mạnh từ "học tập và làm theo" sang "học tập và thực hành", đồng thời bổ sung thêm thành tố “phương pháp” Hồ Chí Minh vào nội dung đẩy mạnh thực hiện.
Ngày 03/9/2026 tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Chỉ thị 07 Trung ương đã khẳng định: các thành tố của chỉ thị lần này có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau nhằm kết nối từ nhận thức đến hành động, nếu tư tưởng là soi đường thì đạo đức là gương mẫu, phương pháp là mở lối còn phong cách là nêu gương và lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu phục vụ. Học tập và thực hành theo tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ để biết mà phải làm theo phương châm 6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ sản phẩm và rõ kết quả.
Nhằm giúp đảng viên ở các Chi bộ trong toàn Đảng bộ nhà Trường nắm vững những định hướng mới, nhận thức sâu sắc về mặt lý luận và thực tiễn, từ đó vận dụng sáng tạo phương pháp của Bác vào quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và đạo đức công vụ, yêu cầu các chi bộ, đảng bộ cần "Nghiên cứu, quán triệt những điểm mới cốt lõi của Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị và giải pháp vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác".
2. Những điểm mới của Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 13/7/2026
Thứ nhất, chuyển mạnh từ "học tập và làm theo" sang "học tập và thực hành"
Nếu “làm theo” dễ có xu hướng mô phỏng, rập khuôn hành vi, thậm chí dừng lại ở bản đăng ký phong trào hoặc báo cáo kiểm điểm mang tính thủ tục, thì “thực hành” đòi hỏi phải chuyển hóa nhận thức lý luận thành hành động tự giác, thường xuyên, gắn với đạo đức công vụ và năng lực giải quyết công việc thực tiễn. Theo đó, phương thức đánh giá cũng cần được đổi mới, không chỉ dựa vào các bản cam kết mà phải lấy sản phẩm cụ thể, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và mức độ hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm căn cứ quan trọng, phù hợp với tinh thần được quán triệt tại Hội nghị toàn quốc về Chỉ thị 07, sáng ngày 03/9/2026.
Thứ hai, Bộ Chính trị đưa thành tố “phương pháp” vào tiêu đề và nội dung chỉ đạo cốt lõi (Tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh). Phương pháp Hồ Chí Minh chính là "chiếc chìa khóa vạn năng" giúp chuyển hóa tư tưởng, đạo đức thành năng lực thực thi và kết quả thực tiễn, giúp cán bộ, đảng viên không chỉ có tâm mà còn có kỹ năng và phương pháp làm việc hiệu quả.
3. Những nội dung cơ bản của phương pháp Hồ Chí Minh
Qua nghiên cứu Di sản Hồ Chí Minh, phương pháp Hồ Chí Minh bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, phương pháp tư duy khoa học, đổi mới và sáng tạo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi tư duy phải xuất phát từ thực tiễn khách quan, nắm bắt đúng quy luật vận động của lịch sử và tuyệt đối tránh xa bệnh giáo điều, máy móc. Trong mọi hoàn cảnh, Người luôn thể hiện tư duy nhạy bén đối với cái mới, “tinh thần chủ động đổi mới, dám nghĩ, dám làm” và mở đường giải quyết những khó khăn phức tạp nhất. Thực hành phương pháp tư duy Hồ Chí Minh chính là việc cán bộ, đảng viên biết nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện, không đi theo lối mòn và luôn chủ động tìm kiếm các giải pháp sáng tạo để nâng cao chất lượng công việc.
Thứ hai, phương pháp quần chúng, thực hiện sâu sắc quan điểm "Dân là gốc".
Phương pháp quần chúng của Hồ Chí Minh thể hiện ở tinh thần gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và vì dân. Bác yêu cầu “Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân”. Cán bộ, đảng viên không được quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch mà phải biết lắng nghe, đối thoại, tôn trọng quyền làm chủ của Nhân dân, đồng thời biết biến đường lối, chủ trương của Đảng thành hành động tự giác của quần chúng lao động.
Thứ ba, phương pháp nêu gương
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, "một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Phương pháp nêu gương của Người đòi hỏi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải luôn thực hiện nghiêm túc nguyên tắc “nói đi đôi với làm”, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Sự nêu gương phải thể hiện bằng cả phẩm chất đạo đức, lối sống lẫn hiệu quả công việc thực tế, lấy uy tín và năng lực thực sự để lan tỏa tinh thần trách nhiệm và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với tổ chức.
Thứ tư, phương pháp làm việc khoa học, hệ thống.
Phương pháp làm việc của Bác luôn có mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể, phân công nhiệm vụ minh bạch và chọn đúng khâu đột phá để tháo gỡ điểm nghẽn. Người luôn coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến. Học tập phương pháp này, cán bộ phải loại bỏ triệt để cách làm việc ngẫu hứng, dàn tràn, nói nhiều làm ít; mọi kế hoạch đề ra đều phải hướng đến kết quả cuối cùng, được đo lường bằng sản phẩm cụ thể và giá trị thực tế mang lại cho cơ quan, đơn vị và xã hội.
Thứ năm, phương pháp bản lĩnh, kiên quyết chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Phương pháp Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự kiên định về mục tiêu, nguyên tắc với sự linh hoạt, mềm dẻo về sách lược “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Trước những khó khăn, thử thách hoặc tình huống phức tạp của thực tiễn, Người luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm, không né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm. Vận dụng phương pháp này đòi hỏi cán bộ, đảng viên hiện nay phải có quyết tâm chính trị cao, sẵn sàng đương đầu với rủi ro, thử thách, dám quyết định và chịu trách nhiệm đến cùng vì lợi ích chung của Đảng và Nhân dân.
4. Giải pháp để các chi bộ trong Đảng bộ Trường Chính trị Quảng Ngãi quán triệt và thực hành theo Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị.
Để đưa Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến rõ nét từ nhận thức sang hành động, mỗi cán bộ, đảng viên trong các Chi bộ cần tập trung thực hiện tốt các giải pháp sau đây:
Một là, đổi mới tư duy, nâng cao bản lĩnh chính trị và tinh thần “7 dám”.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải chủ động rèn luyện tư duy đổi mới, kiên quyết khắc phục tư duy cũ kỹ, lối mòn hoặc tâm lý trông chờ, ỷ lại, sợ sai, sợ trách nhiệm. Cần quán triệt và thực hành sâu sắc tinh thần “7 dám”: dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám vì lợi ích chung. Trong công tác mỗi cán bộ phải chủ động nghiên cứu, phát hiện các điểm nghẽn đang tồn tại trong đơn vị để mạnh dạn tham mưu, đề xuất giải pháp tháo gỡ kịp thời.
Hai là, đổi mới phương pháp làm việc khoa học, lấy sản phẩm thực chất làm thước đo.
Cán bộ, đảng viên cần xây dựng phương pháp làm việc khoa học, có kế hoạch rõ ràng, phân bổ thời gian hợp lý và xác định đúng trọng tâm, trọng điểm của từng nhiệm vụ. Phải loại bỏ triệt để bệnh hình thức, “nói nhiều làm ít” hoặc làm việc ngẫu hứng. Mọi nội dung đăng ký thực hành theo Bác phải gắn liền với công việc hằng ngày và được kết tinh thành sản phẩm cụ thể, đo lường được bằng chất lượng, tiến độ công việc cũng như giá trị thực tế đóng góp cho cơ quan, đơn vị.
Ba là, thực hành sâu sát thực tiễn, kiên trì quan điểm “dân là gốc” và tinh thần phục vụ nhân dân theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng ta.
Đại hội XIV Đảng ta khẳng định: “Tư tuởng xuyên suốt trong Văn kiện, cũng là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam – “Dân là gốc”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân; tôn trọng, lắng nghe và dựa vào Nhân dân. Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, tận tâm phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về mọi quyết định của mình”[1].
Vì vậy, trong mọi hoạt động thực thi nhiệm vụ công vụ, cán bộ, đảng viên phải luôn sâu sát cơ sở, gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân và vì dân. Cần chủ động lắng nghe, đối thoại và tiếp thu các ý kiến, phản ánh chính đáng của Nhân dân cũng như đối tượng phục vụ. Đồng thời, tích cực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và các kênh tương tác số để tiếp nhận thông tin, xử lý công việc nhanh chóng, công khai, minh bạch, lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo cao nhất cho hiệu quả công tác.
Bốn là, nêu gương về đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi và văn hóa ứng xử.
Trách nhiệm nêu gương phải được cụ thể hóa bằng hành động hằng ngày của từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Cán bộ phải luôn tiên phong, gương mẫu trong việc tu dưỡng đạo đức, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Bên cạnh đó, mỗi đảng viên trong Chi bộ cần nâng cao kỷ luật phát ngôn, giữ gìn văn hóa ứng xử chuẩn mực trên không gian mạng và tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Năm là, tăng cường công tác tự kiểm tra, giám sát dựa trên sản phẩm và hiệu quả thực tế.
Từng đảng viên phải tự giác thực hiện việc “tự soi, tự sửa”, định kỳ đánh giá kết quả thực hành của bản thân trong các kỳ sinh hoạt chi bộ. Chi bộ cần chuyển mạnh từ việc kiểm tra bản đăng ký cam kết sang kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị thực tế và sự chuyển biến trong đạo đức công vụ của cán bộ, đảng viên. Kết quả thực hành theo Bác phải được coi là tiêu chí quan trọng, trực tiếp phục vụ công tác đánh giá, xếp loại đảng viên và quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ./.
[1] ĐCSVN, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIV, Nxb CTQG H, năm 2026 tập 1, trang 38-39