THỰC HÀNH ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY: TỪ NHẬN THỨC ĐẾN HÀNH ĐỘNG
ThS Chu Mai Phong
Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở
Tóm tắt
Đạo đức là nội dung cốt lõi trong di sản Hồ Chí Minh và là nền tảng của người cách mạng. Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh đặt ra đòi hỏi chuyển mạnh từ nhận thức sang hành động, gắn với trách nhiệm nêu gương, đạo đức công vụ, phương pháp làm việc khoa học, gần dân, vì dân và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở làm rõ nội hàm và những nội dung cốt lõi của thực hành đạo đức Hồ Chí Minh, bài viết đề xuất một số yêu cầu nhằm chuyển các chuẩn mực đạo đức thành hành động thường xuyên, tự giác và kết quả cụ thể trong thực tiễn.
Từ khóa: Hồ Chí Minh; đạo đức Hồ Chí Minh; thực hành đạo đức; cán bộ, đảng viên; trách nhiệm nêu gương.
Mở đầu
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức là “gốc” của người cách mạng, gắn với tu dưỡng, rèn luyện và hành động trong thực tiễn. Vì vậy, giá trị của đạo đức cách mạng không chỉ ở nhận thức, lời nói mà quan trọng hơn ở hành động và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đạt nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 chỉ rõ yêu cầu khắc phục tình trạng học tập, làm theo còn hình thức, chưa tạo chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động; đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm nêu gương và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.
Trong giai đoạn phát triển mới, thực hành đạo đức Hồ Chí Minh cần được xác định là quá trình chuyển hóa các chuẩn mực đạo đức thành hành vi và kết quả cụ thể trong thực tiễn. Bài viết tập trung làm rõ nội hàm, những nội dung cốt lõi và yêu cầu thực hành đạo đức Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên hiện nay.
1. Thực hành đạo đức Hồ Chí Minh - yêu cầu chuyển hóa từ nhận thức thành hành động
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức là “gốc” của người cách mạng, gắn với tu dưỡng, rèn luyện và hành động. Người luôn nhấn mạnh sự thống nhất giữa nói và làm, coi tu dưỡng đạo đức là công việc thường xuyên, suốt đời. Từ quan niệm đó có thể thấy, đạo đức không chỉ định hướng nhận thức mà còn chi phối cách nghĩ, cách làm và việc sử dụng năng lực của người cán bộ, đảng viên vì lợi ích chung.
Trong điều kiện hiện nay, thực hành đạo đức Hồ Chí Minh có thể hiểu là quá trình cán bộ, đảng viên chuyển hóa các chuẩn mực đạo đức thành hành vi cụ thể trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ và các quan hệ hằng ngày; thể hiện ở sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, trách nhiệm và kết quả, quyền hạn và trách nhiệm, lợi ích cá nhân và lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân. Cốt lõi của quá trình đó là nhận thức đúng - tự giác tu dưỡng - hành động đúng - chịu trách nhiệm - tạo kết quả cụ thể.
Thực hành đạo đức phải phù hợp với chức trách, nhiệm vụ và vị trí công tác, được thể hiện qua tinh thần tận tụy, kỷ luật, liêm chính, công tâm, tôn trọng Nhân dân và trách nhiệm với công việc. Tuy nhiên, “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” phải trong khuôn khổ nguyên tắc, kỷ luật, pháp luật và lợi ích chung. Vì vậy, thực hành đạo đức vừa đòi hỏi chủ động, đổi mới, trách nhiệm, vừa đòi hỏi liêm chính, khoa học và chịu trách nhiệm về kết quả của hành động.
2. Một số nội dung cốt lõi của thực hành đạo đức Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên hiện nay
2.1. Thực hành trung với nước, hiếu với dân, đặt lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân lên trên hết
“Trung với nước, hiếu với dân” là sự kế thừa và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với những giá trị đạo đức truyền thống, trong đó phụng sự Tổ quốc gắn liền với phục vụ Nhân dân. Trong điều kiện hiện nay, thực hành phẩm chất đó là tận tụy với công việc, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân; tôn trọng, lắng nghe, gần dân và có trách nhiệm trước những yêu cầu chính đáng của Nhân dân.
“Gần dân” không chỉ ở sự tiếp xúc mà còn ở tư duy, thái độ và cách giải quyết công việc; chủ động giải quyết hoặc hướng dẫn giải quyết đúng thẩm quyền, đúng quy định, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Thực hành “hiếu với dân” phải gắn với quan điểm “dân là gốc”, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và lấy chất lượng, hiệu quả công việc, sự hài lòng của Nhân dân làm căn cứ quan trọng để đánh giá kết quả thực hành. Chỉ thị 07 cũng đặt yêu cầu gắn thực hành theo Bác với chất lượng, hiệu quả thực thi nhiệm vụ và kết quả phục vụ Nhân dân.
2.2. Thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là những chuẩn mực quan trọng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Thực hành “cần” là tận tụy, chủ động, làm việc khoa học, có kế hoạch, bảo đảm chất lượng và hiệu quả; “kiệm” là sử dụng tiết kiệm thời gian, sức lao động, ngân sách, tài sản và các nguồn lực công; “liêm” là không vụ lợi, không lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì lợi ích riêng; “chính” là ngay thẳng, công tâm, khách quan, tôn trọng nguyên tắc, kỷ luật; “chí công vô tư” là đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.
Trong điều kiện hiện nay, những chuẩn mực đó cần được thể hiện trong từng quyết định, hành vi và cách sử dụng quyền hạn, nguồn lực được giao; đồng thời gắn với tự tu dưỡng, tự kiểm tra và kiểm tra, giám sát của tổ chức. Qua đó góp phần kiểm soát quyền lực, phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và nâng cao kỷ luật thực thi công vụ.
2.3. Thực hành yêu thương con người, tôn trọng và dựa vào Nhân dân
Yêu thương con người, sống có tình, có nghĩa, tôn trọng và tin tưởng Nhân dân là nội dung quan trọng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên gắn bó với Nhân dân, học hỏi và dựa vào Nhân dân để thực hiện nhiệm vụ.
Trong thực tiễn, nội dung này được thể hiện qua văn hóa ứng xử, thái độ tôn trọng, lắng nghe, giải thích và hướng dẫn rõ ràng; giải quyết công việc đúng quy định, đúng thời hạn và có trách nhiệm. Một thái độ tiếp dân chân thành, một lời giải thích thấu đáo hay một kiến nghị được tiếp nhận, phản hồi đúng trách nhiệm đều là những biểu hiện cụ thể của đạo đức phục vụ.
Yêu thương con người không đồng nghĩa với dễ dãi, bao che sai phạm; nhân văn phải gắn với nguyên tắc, công bằng và pháp luật. Vì vậy, cán bộ, đảng viên cần kết hợp hài hòa giữa tình và lý, giữa lắng nghe, chia sẻ với giữ vững kỷ luật, kỷ cương và lợi ích chung.
2.4. Thực hành tinh thần quốc tế trong sáng trong điều kiện mới
Tinh thần quốc tế trong sáng thể hiện ở đoàn kết quốc tế, tôn trọng các dân tộc, yêu chuộng hòa bình và hợp tác vì những giá trị tiến bộ. Trong điều kiện hội nhập, thực hành nội dung này đòi hỏi cán bộ, đảng viên tôn trọng sự khác biệt, chủ động hợp tác, học hỏi và tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại, đồng thời giữ vững lợi ích quốc gia - dân tộc và các nguyên tắc trong quan hệ đối ngoại.
Điều đó được cụ thể hóa trong năng lực hội nhập, kiến thức quốc tế, thái độ hợp tác, ứng xử văn minh và khả năng tiếp nhận có chọn lọc kinh nghiệm tiến bộ. Qua đó, tinh thần quốc tế trong sáng trở thành một bộ phận của năng lực và phương pháp ứng xử của cán bộ, đảng viên trong bối cảnh mới.
3. Từ chuẩn mực đến hành động - những yêu cầu đặt ra trong thực hành đạo đức Hồ Chí Minh
Thực hành đạo đức Hồ Chí Minh chỉ có ý nghĩa khi tạo chuyển biến trong hành động và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, cần tạo môi trường và cơ chế để cán bộ, đảng viên thực hành thường xuyên, tự giác, thiết thực và có thể kiểm tra, đánh giá.
Một là, cụ thể hóa chuẩn mực thành yêu cầu đối với từng chức trách, nhiệm vụ. Các chuẩn mực đạo đức cần được chuyển thành những hành vi cụ thể phù hợp với từng vị trí công tác: người đứng đầu quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và chịu trách nhiệm; cán bộ tham mưu trung thực, khách quan; người trực tiếp giải quyết công việc đúng quy định, đúng thời hạn, không gây phiền hà; cán bộ chuyên môn chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm. Khi chuẩn mực được cụ thể hóa thành hành vi, việc thực hành mới có cơ sở để kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh.
Hai là, đề cao trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu. Nêu gương phải được thể hiện bằng hành động và trở thành phương thức lãnh đạo. Người đứng đầu cần thực hiện trước những yêu cầu đối với cấp dưới, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không né tránh, đùn đẩy; gắn nêu gương với bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới, năng lực tổ chức thực hiện, đạo đức công vụ, kỷ luật và tinh thần phục vụ Nhân dân. Chỉ thị 07 cũng cụ thể hóa trách nhiệm nêu gương theo hướng gắn với bản lĩnh, tư duy đổi mới, năng lực tổ chức thực hiện và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Ba là, gắn thực hành đạo đức với kết quả thực hiện nhiệm vụ. Thực hành phải được kiểm nghiệm bằng chất lượng, tiến độ, hiệu quả công việc, mức độ hoàn thành nhiệm vụ và trách nhiệm với Nhân dân, tổ chức. Tuy nhiên, không đồng nhất đạo đức với thành tích; kết quả phải được xem xét cùng quá trình thực hiện, tính trung thực, công tâm, phương pháp làm việc và việc tuân thủ nguyên tắc, kỷ luật, pháp luật. Kết quả đạt được bằng cách làm sai nguyên tắc không thể được xem là biểu hiện đầy đủ của thực hành đạo đức.
Bốn là, kết hợp tự tu dưỡng với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Hồ Chí Minh coi trọng tự tu dưỡng, tự soi, tự sửa và chống chủ nghĩa cá nhân. Song, tự giác cá nhân cần được đặt trong môi trường tổ chức và cơ chế kiểm tra, giám sát phù hợp. Vì vậy, cần kết hợp tự rèn luyện với kiểm tra, giám sát; động viên, biểu dương với xử lý nghiêm vi phạm; phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Qua đó, đạo đức cá nhân được củng cố bằng kỷ luật tổ chức, góp phần kiểm soát quyền lực và phòng ngừa tiêu cực.
Năm là, gắn thực hành đạo đức với phương pháp Hồ Chí Minh và yêu cầu chuyển đổi số. Đạo đức phải gắn với phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, lắng nghe Nhân dân, kiểm tra kết quả và thường xuyên rút kinh nghiệm. Trong chuyển đổi số, công nghệ, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo cần được sử dụng để nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, tính minh bạch và phục vụ Nhân dân. Chỉ thị 07 cũng đặt yêu cầu ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng dữ liệu, học liệu phục vụ học tập, thực hành theo Bác.
Kết luận
Thực hành đạo đức Hồ Chí Minh là quá trình chuyển hóa các chuẩn mực đạo đức thành hành động tự giác, thường xuyên và kết quả cụ thể trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Vì vậy, cùng với nâng cao nhận thức cần cụ thể hóa chuẩn mực thành hành vi, đề cao nêu gương, gắn với kết quả công việc, tự tu dưỡng, kiểm tra, giám sát và phương pháp làm việc phù hợp với điều kiện mới.
Khi các giá trị đạo đức được thể hiện trong từng hành động, quyết định và kết quả công việc, việc học tập và thực hành theo Bác mới thực sự đi vào chiều sâu, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới.
[2] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
[4] Bộ Chính trị (2016), Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.