Nội dung cơ bản của 10 Nghị quyết trụ cột trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

18/08/2026 02:35:33 PM         

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA 10 NGHỊ QUYẾT TRỤ CỘT TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC
 
ThS Hạ Thị Hương
Giảng viên Khoa xây dựng Đảng
 
Tóm tắt: Bước vào kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều Nghị quyết quan trọng, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững trên tất cả các lĩnh vực. Bài viết giới thiệu 10 nghị quyết được xem là trụ cột, tập trung vào các lĩnh vực then chốt, như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công tác xây dựng và thi hành pháp luật, về kinh tế tư nhân,... Các Nghị quyết thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
 
Từ khóa: kỷ nguyên vươn mình; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
 
1. Sự cần thiết của việc ban hành Nghị quyết
 
Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời sự với sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghệ lần thứ tư, những đột phá trong trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa mở ra nhiều cơ hội lớn; nền kinh tế thế giới đang có bước chuyển mang tính cách mạng trong cơ cấu và phương thức sản xuất; những chuyển biến mạnh mẽ về văn hóa trên quy mô toàn cầu, văn hóa đang nổi lên như một yếu tố ảnh hưởng ngày càng lớn đến phát triển kinh tế an ninh, niềm tin của các nước; kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo ngày càng phát triển;…
 
Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo sau 40 năm đã mang lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; từng bước xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, định hướng thực tiễn cho sự nghiệp cách mạng của nước ta trong giai đoạn mới. Đồng thời, bối cảnh trong nước đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới rất cao, như: phải xây dựng đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với mô hình chính quyền 3 cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự có đức, có tài; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tạo nền tảng cho sự phát triển của lực lượng sản xuất mới; phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển của đất nước;... Xuất phát từ những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, Bộ Chính trị ban hành nhiều nghị quyết, trong đó, 10 Nghị quyết dưới đây mang tính chiến lược, bức phát trước thời cơ, thách thức mới, đây được xem như mệnh lệnh hành động của toàn Đảng, toàn dân nhằm cụ thể hóa và hiện thực hóa mục tiêu, tầm nhìn của Đảng. 10 Nghị quyết có mối quan hệ chặt chẽ thành một hệ thống giải pháp tổng thể, toàn diện, đột phá; là động lực dẫn đường để phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp, khơi dậy khát vọng cống hiến, tháo gỡ rào cản, vượt qua thách thức, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
 
2. Khái quát 10 Nghị quyết trụ cột trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
 
1. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Hiện nay, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định, là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh; bối cảnh đó, yêu cầu có chủ trương, quyết sách mạnh mẽ, mang tính chiến lược và cách mạng để tạo xung lực mới đưa đất nước phát triển mạnh mẽ. Nghị quyết đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo xem đây là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại; là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài với 07 giải pháp đột phá, mang tính cách mạng, nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có trình độ khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến trên nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á, nhóm 50 đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, trong đó quy mô kinh tế số đạt tối thiểu ≥30%GDP và từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược như AI, điện toán đám mây, bán dẫn, 5G, 6G,…; tầm nhìn đến năm 2045, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển vững chắc, quy mô kinh tế số đạt ≥50GDP, là trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới, thuộc nhóm 30 nước đứng đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
 
2. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, định hướng tư duy và hành động về hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới. Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Nghị quyết là xác định hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể sáng tạo; đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, hội nhập quốc tế đồng bộ, toàn diện, sâu rộng; Nghị quyết đã đưa ra 07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm giữ môi trường hòa bình, ổn định, góp phần thiết thực vào xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, nâng cao vị thế và uy trí của đất nước.
 
3. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết xác định công tác xây dựng thực thi pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế; xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn, tiếp thu có chọn lọc giá trị tinh hoa của nhân loại, bảo đảm tính hệ thống, nắm bắt mọi cơ hội, mở đường, khơi thông mọi nguồn lực. Mục tiêu chính của Nghị quyết là tạo ra một xã hội thực sự dân chủ, bình đẳng, an toàn, minh bạch; nhân dân thực sự làm chủ; quản lý, quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo sự phát triển; nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
 
4. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết xác định trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia; là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài; nuôi dưỡng, khuyến khích tinh thần kinh doanh, đổi mới sáng tạo, doanh nhân là chiến sĩ trên mặt trận kinh tế; tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, dễ thực thi, chi phí thấp, đạt chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Phấn đấu đến năm 2030, kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất, tiên phong về công nghệ, hướng tới 2 triệu doanh nghiệp, tăng trưởng 10-12%/năm, đóng góp 55-58%GDP; đến năm 2045, kinh tế tư nhân phát triển nhanh, mạnh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, phấn đấu có ít nhất 3 triệu doanh nghiệp và đóng góp 60%GDP.
 
5. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết xác định để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời gian tới, công tác bảo đảm an ninh năng lượng có vai trò rất quan trọng, năng lượng phải đi trước một bước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân. Mục tiêu đến năm 2030, đáp ứng đầy đủ, an toàn nhu cầu năng lượng, như điện, xăng dầu, khí tự nhiên hóa lỏng; độ tin cậy cung cấp điện năng và chỉ số tiếp cận điện năng thuộc top 3 nước dẫn đầu ASEAN, nâng tỷ lệ năng lượng tái tạo lên 25-30%, đồng thời tiết kiệm 8-10% tiêu thụ và giảm 15-30% phát thải. Đến năm 2045, bảo đảm vững chắc an ninh năng lược quốc gia, ngành năng lượng phát triển đồng bộ, bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, giảm phát thải, hạ tầng năng lượng thông minh, hiện đại kết nối khu vực và quốc tế, trình độ khoa học – công nghệ ngang tầm các nước công nghiệp phát triển hiện đại.
 
6. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Trong bối cảnh thế giới có những thay đổi sâu sắc, toàn diện, đặc biệt công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình nền giáo dục trên phạm vi toàn cầu, đất nước đang đứng trước vận hội lịch sử để phát triển bứt phá, yêu cầu xây dựng con người, xây dựng nguồn nhân lực đặt ra rất quan trọng và cấp bách, đòi hỏi phải đột phá phát triển giáo dục và đào tạo xây dựng thế hệ con người Việt Nam mới có lòng yêu nước và tự hào dân tộc, đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, trình độ, sức khỏe đáp ứng yêu cầu mới. Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Nghị quyết là giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân; người học là trung tâm, là chủ thể, nhà trường là nền tảng, nhà giáo là động lực quyết định chất lượng giáo dục; giáo dục đào tạo phải bảo đảm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, “nhà trường gắn liền với xã hội”; giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là thành phần quan trọng, xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, bảo đảm cơ hội học tập công bằng, bình đẳng. Với 8 nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Phấn đấu đến năm 2030, mở rộng tiếp cận công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến khu vực Châu Á; xây dựng, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao; nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp; chỉ số vốn con người và nghiên cứu đóng góp vào chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) ngang bằng các nước có thu nhập trung bình cao. Đến năm 2035, hệ thống giáo dục tiếp tục hiện đại hóa, có bước tiến mạnh, vững chắc về tiếp cận, công bằng và chất lượng; hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và tương đương; ít nhất 2 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới; chỉ số vốn con người và nghiên cứu đóng góp vào chỉ số GII đạt trên mức bình quân của các nước có thu nhập trung bình cao. Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, chất lượng, đứng vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới; nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học, công nghệ trở thành động lực, lợi thế cạnh tranh cốt lõi của đất nước; ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới.
 
7. Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Nhằm xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân điều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, ý thức bảo vệ sức khỏe và chủ động phòng ngừa bệnh tật, Nghị quyết đã đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo, xem bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân là mục tiêu, là động lực, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, giữ vị trí ưu tiên; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và mọi người dân; đề cao ý thức phòng bệnh, lối sống lành mạnh, xây dựng văn hóa sức khỏe trong Nhân dân; chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh. Mục tiêu đến năm 2030 nâng cao thể lực, trí lực, tầm vóc và tuổi thọ khỏe mạnh của Nhân dân; tuổi thọ trung bình 75,5 tuổi, năm sống khỏe tối thiểu 68 năm; giảm gánh nặng bệnh tật và kiểm soát các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe; người dân được tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng, hướng đến chăm sóc sức khỏe toàn diện; người dân được khám định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí 1 lần/năm từ năm 2026 và từng bước miễn viện phí cơ bản; củng cố y tế cơ sở, bao phủ BHYT. Đến năm 2045, môi trường sống có chất lượng tốt, các chỉ số sức khỏe và chỉ số bao phủ dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu ngang tầm các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, tăng tuổi thọ lên trên 80 tuổi, sống khỏe mạnh trên 71 tuổi, nâng tầm vóc thanh niên và xây dựng hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, bền vững.
 
8. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước. Nghị quyết xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm kinh tế vĩ mô, các cân đối của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường; kinh tế nhà nước phải phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước. Mục tiêu đến năm 2030, quản lý khai thác, huy động và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên và phát triển hạ tầng chiến lược, đồng bộ, hiện đại; kiểm soát an toàn ngân sách – nợ công; giữ mức dự trữ quốc gia tối thiểu 1%GDP; xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp mạnh, quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh; tinh gọn và xã hội hóa các đơn vị sự nghiệp công lập. Tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc đảm bảo tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế; quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả; nâng mức dự trữ quốc gia đạt 2%GDP, mở rộng quy mô các doanh nghiệp lớn và đạt tối thiểu 50% đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính.
 
9. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết khẳng định văn hóa phải đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách phát triển, đề cao giá trị nhân văn, chuẩn mực đạo đức xã hội; xây dựng và phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Nghị quyết đã đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo, 8 nhiệm vụ, giải pháp; nhằm phấn đấu đến năm 2030, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát triển văn học nghệ thuật xứng tầm, bảo tồn di sản và hoàn thiện thiết chế, đưa công nghiệp văn hóa đóng góp 7%GDP, ngân sách đầu tư tối thiểu 2%, xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế; tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt nam xã hội chủ nghĩa, đưa kinh tế sáng tạo trở thành trụ cột, đóng góp công nghiệp văn hóa 9%GDP, Việt Nam nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về chỉ số sức mạnh mềm của quốc gia (Soft Power Index) và giá trị xuất khẩu công nghiệp văn hóa.
 
10. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư ở nước ngoài. Nghị quyết xác định kinh tế có vốn đâug tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường. Nghị quyết đưa ra 6 quan điểm chỉ đạo và 7 nhiệm vụ giải pháp; mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới, sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án FDI chất lượng; đến năm 2045 Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới, sáng tạo, điều hành khu vực có sức cạnh tranh cao ở Châu Á.
 
3. Giá trị lý luận và thực tiễn của những Nghị quyết
 
Giá trị lý luận: tiếp tục làm rõ thêm lý luận của Đảng về sự phát triển bền vững. Trong đó, khẳng định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển xanh là những động lực cốt lõi mang tính quy luật để tạo nên những bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển. Định vị lại vai trò và tạo sự hài hòa giữa các thành phần kinh tế; trong đó, coi kinh tế nhà nước là chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời trong các thành phần kinh tế của Việt Nam. Nhấn mạnh văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết; văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, sức khỏe nhân dân, xem đây là mục tiêu, sức mạnh quyết định thành công của công cuộc phát triển đất nước.
 
Giá trị thực tiễn: các nghị quyết đã tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế, tạo cơ sở pháp lý để khơi thông các nguồn lực. Thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, nhấn mạnh phát triển năng lượng tái tạo, tăng tỷ trọng kinh tế số, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tập trung đầu tư, nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, đổi mới chương trình giáo dục - đạo tạo gắn với nhu cầu thị trường, bảo tồn các giá trị văn hóa trước làn sóng toàn cầu hóa. Nâng cao vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
1. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
 
2. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
 
3. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ  nguyên mới.
 
4. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
 
5. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
 
6. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
 
7. Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
 
8. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước.
 
9. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
 
10. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư ở nước ngoài.

Tin cùng danh mục:

THÔNG TIN CẦN BIẾT