LỒNG GHÉP NỘI DUNG NGHỊ QUYẾT SỐ 10-NQ/TW NGÀY 08/6/2026 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Nguyễn Đình Minh
Khoa Nhà nước và Pháp luật
Tóm tắt: Ngày 8/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế vó vốn đầu tư nước ngoài đã khẳng định sứ mệnh, vai trò là một bộ phận cấu thành không tách rời của nền kinh tế; là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế; là nguồn cung ứng vốn chất lượng cao, công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, tiêu chuẩn quốc tế. Trong quá trình giảng dạy các môn học của chương trình trung cấp lý luận chính trị, giảng viên phải lựa chọn nội dung bài học để lồng ghép nhằm hình thành tư duy hội nhập cho đội ngũ công chức, viên chức trong thực thi nhiệm vụ quản trị địa phương
Từ khóa: vốn đầu tư, nước ngoài, FDI
1. Đặt vấn đề
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã bắt đầu công cuộc đổi mới với chủ trương mở của nền kinh tế với những đột phá trong tư duy phát triển, đa dạng hóa các hình thức hợp tác quốc tế, đặt nền nền móng cho hội nhập kinh tế sâu rộng với quan điểm: “Công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu’’. [2]
Quan điểm trên đã mở đầu cho quá trình hình thành khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, mở đầu cho quá trình hình thành dòng chảy nguồn vốn quốc tế mang theo những giá trị về khoa học kỹ thuật và phương thức quản trị hiện đại. Xuất phát từ thực tiễn sống động đó, Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 tạo nền tảng pháp lý đưa Việt Nam trở thành điểm đến của các nhà đầu tư, kết nối Việt Nam với thế giới.
Thực tiễn gần 40 năm qua đã chứng minh sự đúng đắng trong quan điểm của đảng về xây dựng và phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với vai trò là một bộ phận cấu thành nên tổng thể nền kinh tế quốc gia, có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa đảm nhiệm nhiệm vụ bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển, vừa thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp, tạo việc làm cho hàng triệu lao động, mở rộng thị trường xuất khẩu và đưa Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đến nay, khu vực FDI chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước, trở thành lực lượng quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, công nghệ cao và dịch vụ hiện đại.
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị ra đời trong bối cảnh đó. Nghị quyết vừa tiếp tục khẳng định vị trí của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, vừa định hướng lại cách thức thu hút, quản lý và phát huy hiệu quả nguồn lực này trong mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Vì vậy, việc đưa những nội dung cốt lõi của Nghị quyết vào giảng dạy Trung cấp lý luận chính trị có ý nghĩa trực tiếp đối với việc cập nhật đường lối của Đảng, nâng cao năng lực thực thi công vụ và hình thành tư duy hội nhập cho đội ngũ cán bộ ở cơ sở.
2. Sự phát triển trong nhận thức của Đảng về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Có thể nói, quan điểm, nhận thức của đảng về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một quá trình tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới, bắt đầu từ đại hội VI đến Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 8/6/2026 dựa trên những diễn biến hết sức phong phú song hành với lịch sử phát triển kinh tế của đất nước cùng với những bước đi hết sức thận trọng, từng bước bổ sung, hoàn thiện, không nóng vội, đánh đổi bằng mọi giá để lấy nguồn vốn.
2.1. Giai đoạn hình thành tư duy mở cửa và thu hút nguồn lực bên ngoài
Từ Đại hội VI đến Đại hội VIII, trọng tâm của đường lối là mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi và thu hút nguồn lực phục vụ công nghiệp hóa. Đại hội VII yêu cầu xây dựng thể chế đồng bộ, ổn định, thuận tiện và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh các thủ tục đầu tư [3]. Đại hội VIII tiếp tục định hướng FDI vào các lĩnh vực có công nghệ tiên tiến, tỷ lệ xuất khẩu cao, đồng thời tăng cường hợp tác với các công ty đa quốc gia để tiếp cận công nghệ nguồn, phương thức quản lý hiện đại và thị trường quốc tế [4].
Điểm nổi bật của giai đoạn này là sự thay đổi căn bản trong cách nhìn nhận nguồn vốn nước ngoài. FDI không còn được xem đơn thuần là nguồn bổ sung vốn, mà bắt đầu được tiếp cận như một kênh tiếp nhận công nghệ, quản trị và thị trường. Đây là nền móng quan trọng cho quá trình hội nhập sâu rộng về sau.
2.2. Giai đoạn khẳng định vị trí của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Từ Đại hội IX đến Đại hội XIII, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được chính thức xác định là một thành phần của nền kinh tế. Đại hội IX khuyến khích đầu tư vào sản xuất hàng xuất khẩu và sản phẩm công nghệ cao [5]. Các kỳ đại hội tiếp theo tiếp tục hoàn thiện quan điểm theo hướng bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, nâng cao chất lượng thu hút FDI, tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước và phát huy tác động lan tỏa về công nghệ, năng suất và quản trị.
Sự phát triển trong nhận thức ở giai đoạn này thể hiện ở việc chuyển trọng tâm từ “thu hút được vốn” sang “sử dụng hiệu quả nguồn vốn”. Chất lượng dự án, khả năng liên kết với khu vực kinh tế trong nước, mức độ đóng góp vào đổi mới mô hình tăng trưởng và bảo đảm lợi ích quốc gia dần trở thành tiêu chí quan trọng trong chính sách FDI.
2.3. Nghị quyết số 10-NQ/TW và yêu cầu phát triển FDI trong mô hình tăng trưởng mới
Nghị quyết số 10-NQ/TW là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết xác định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh trong thu hút nguồn vốn trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển [1]. Cách tiếp cận này đặt FDI trong mối quan hệ tổng thể với tự chủ kinh tế, an ninh quốc gia, phát triển doanh nghiệp trong nước, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Giá trị cốt lõi của Nghị quyết nằm ở yêu cầu thu hút có chọn lọc, không đánh đổi môi trường, an ninh kinh tế và lợi ích dài hạn để đạt mục tiêu tăng vốn đăng ký trong ngắn hạn. Vì vậy, đội ngũ cán bộ địa phương cần hiểu FDI như một nguồn lực phải được quản trị chủ động, từ lựa chọn dự án, thẩm định nhà đầu tư, bố trí đất đai, giám sát triển khai đến đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và tác động môi trường.
3. Vai trò của FDI và những vấn đề đặt ra đối với quản trị địa phương
Thứ nhất, FDI là tấm gương phản chiếu về năng lực điều hành nền kinh mở để hút dòng chảy nguồn vốn quốc tế bổ sung vốn đầu tư quan trọng cho phát triển kinh tế vào Việt Nam.
Trong điều kiện nhu cầu vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng, công nghiệp và dịch vụ hiện đại ngày càng lớn, FDI tiếp tục là nguồn bổ sung quan trọng cho nền kinh tế. Giai đoạn 2021-2025, vốn thực hiện tăng từ 19,74 tỷ USD lên 27,62 tỷ USD. Kết quả này phản ánh khả năng duy trì sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam trong thời kỳ chuỗi cung ứng toàn cầu biến động.
Số liệu trên cho thấy sự gia tăng của vốn thực hiện ổn định hơn vốn đăng ký. Đây là tín hiệu quan trọng vì vốn thực hiện phản ánh mức độ hiện thực hóa cam kết đầu tư. Đối với quản trị địa phương, kết quả thu hút FDI không nên chỉ được đánh giá bằng số dự án hoặc tổng vốn đăng ký, mà cần gắn với tiến độ giải ngân, hiệu quả sử dụng đất, giá trị gia tăng tạo ra và đóng góp thực tế cho ngân sách, việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thứ hai, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, mở rộng không gian hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Khu vực FDI chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, đặc biệt ở các ngành điện tử, máy tính, điện thoại, máy móc, dệt may và giày dép. Sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia đã đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất toàn cầu, đồng thời tạo áp lực đổi mới đối với doanh nghiệp trong nước.
Tỷ trọng xuất khẩu cao của khu vực FDI vừa khẳng định vai trò đối với tăng trưởng, vừa cho thấy mức độ phụ thuộc đáng kể của năng lực xuất khẩu vào doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không phải là giảm vai trò của FDI mà là nâng cao khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa và phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ. Đây cũng là nội dung cần được làm rõ khi giảng dạy để học viên tránh cách nhìn tuyệt đối hóa hoặc phủ nhận vai trò của khu vực FDI.
Thứ ba, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng nhưng đặt ra yêu cầu sàng lọc nhà đầu tư
Trong những năm gần đây, dòng vốn FDI có xu hướng chuyển dịch mạnh vào các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, năng lượng tái tạo và sản xuất thông minh. Xu hướng này tạo điều kiện để Việt Nam từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên sang mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ lớn tại Việt Nam không chỉ tạo ra giá trị xuất khẩu mà còn góp phần hình thành hệ sinh thái công nghiệp mới, nâng cao trình độ quản trị doanh nghiệp và tạo cơ hội đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao. Đây là những yếu tố có ý nghĩa lâu dài đối với quá trình hiện đại hóa nền kinh tế.
Tuy nhiên, tác động tích cực của FDI không tự động hình thành mà phụ thuộc rất lớn vào năng lực quản lý và điều hành của chính quyền các cấp. Thực tiễn cho thấy vẫn còn tình trạng một số doanh nghiệp chuyển giá, sử dụng công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng đất chưa cao hoặc liên kết còn hạn chế với doanh nghiệp trong nước. Những tồn tại này cho thấy thu hút FDI không thể chỉ dừng ở việc cấp phép đầu tư mà phải được tiếp cận như một quá trình quản trị xuyên suốt từ lựa chọn nhà đầu tư, theo dõi triển khai dự án, đánh giá hiệu quả đến kiểm soát các tác động về môi trường, xã hội và an ninh kinh tế.
4. Lồng ghép Nghị quyết số 10-NQ/TW vào một số bài học của Chương trình Trung cấp lý luận chính trị
4.1. Mục tiêu và nguyên tắc lồng ghép
Việc lồng ghép Nghị quyết số 10-NQ/TW cần hướng tới ba mục tiêu.
Thứ nhất, giúp học viên nắm được sự phát triển trong quan điểm của Đảng về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và nhận thức đúng mối quan hệ bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế.
Thứ hai, hình thành năng lực phân tích, lựa chọn và quản trị dự án FDI phù hợp với điều kiện địa phương.
Thứ ba, củng cố khả năng nhận diện và phản bác các luận điệu xuyên tạc cho rằng Việt Nam “quay lưng” với khu vực FDI hoặc thiên vị một thành phần kinh tế.
Lồng ghép phải bảo đảm tính chính xác, vừa đủ và gắn với mục tiêu của từng bài học. Giảng viên không nên biến nội dung Nghị quyết thành một chuyên đề độc lập nằm ngoài chương trình, cũng không dừng ở việc đọc lại văn bản. Nội dung được lựa chọn cần gắn với tình huống quản trị cụ thể, có số liệu minh chứng và tạo cơ hội để học viên phân tích, tranh luận, đề xuất phương án xử lý.
4.2. Lồng ghép trong bài “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” học phần Đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước Việt Nam
Ở bài học này, Nghị quyết số 10-NQ/TW được sử dụng để làm rõ cơ cấu nhiều thành phần của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển lâu dài khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Giảng viên cần phân tích rằng việc khẳng định vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không tạo ra sự loại trừ lẫn nhau. Mỗi khu vực có chức năng, lợi thế và phạm vi đóng góp riêng trong tổng thể nền kinh tế quốc gia.
Sau khi cung cấp các luận điểm của Nghị quyết, giảng viên có thể yêu cầu học viên phân tích câu hỏi: “Vì sao Việt Nam vừa coi trọng tự chủ kinh tế, vừa tiếp tục thu hút FDI chất lượng cao?”. Quá trình thảo luận giúp học viên nhận thấy tự chủ kinh tế không đồng nghĩa với khép kín, mà là nâng cao năng lực nội sinh để lựa chọn, hấp thụ và sử dụng hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Đây là cơ sở để phản bác những cách diễn giải cực đoan, đối lập hóa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI.
4.3. Lồng ghép trong bài “Quản lý hoạt động kinh tế ở cơ sở” học phần Quản lý hành chính nhà nước
Đây là bài học phù hợp nhất để chuyển nội dung Nghị quyết thành năng lực thực hành. Giảng viên cần tập trung vào trách nhiệm của chính quyền địa phương trong tiếp nhận, lựa chọn, hỗ trợ và giám sát dự án đầu tư. Nội dung lồng ghép nên bao gồm: tiêu chí sàng lọc nhà đầu tư; đánh giá năng lực tài chính và công nghệ; hiệu quả sử dụng đất; mức độ tạo việc làm và liên kết với doanh nghiệp địa phương; tiêu chuẩn môi trường; trách nhiệm xã hội; cơ chế giám sát sau cấp phép và xử lý dự án chậm tiến độ.
Có thể tổ chức tình huống: một nhà đầu tư đề xuất dự án có vốn lớn, tạo nhiều việc làm nhưng sử dụng diện tích đất đáng kể, tiêu hao năng lượng cao và cam kết chuyển giao công nghệ chưa rõ ràng. Các nhóm học viên đóng vai cơ quan chuyên môn, chính quyền cấp xã, doanh nghiệp, người dân và tổ chức môi trường để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá. Sau phần trình bày, các nhóm phản biện chéo và lựa chọn phương án: chấp thuận, yêu cầu điều chỉnh hoặc từ chối dự án.
Thông qua tình huống, học viên vận dụng đồng thời kiến thức về pháp luật đầu tư, đất đai, môi trường, lao động và quản lý nhà nước. Kết quả học tập không nằm ở việc ghi nhớ nội dung Nghị quyết, mà ở khả năng chuyển các định hướng chính trị thành tiêu chí và quyết định quản trị cụ thể.
4.4. Lồng ghép nội dung đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống lại các quan điểm sai trái, thù địchgóp phần nâng cao bản lĩnh học viên đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc và hình thành tư duy hội nhập trong quản trị địa phương của công chức
Hiện nay, “Không ít luận điệu xuyên tạc đã cố tình cho rằng Việt Nam đang dần "quay lưng" với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hoặc có sự ưu ái thái quá đối với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong nước.” [9].
Đối với các luận điệu xuyên tạc này giảng viên nêu rõ quan điểm của Đảng trong Nghị quyết 10/NQ-TW đã xác định rất rõ: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác theo quy định của pháp luật.” [1]
Học viên cần được hướng dẫn sử dụng ba nhóm luận cứ: quan điểm chính thức của Đảng; bằng chứng thực tiễn về đóng góp và hạn chế của khu vực FDI; nguyên tắc bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế. Cách tiếp cận này giúp việc đấu tranh tư tưởng dựa trên lập luận và chứng cứ, tránh phản bác theo cảm tính hoặc khẩu hiệu.
5. Kết luận
Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chuyển trọng tâm từ thu hút nguồn vốn sang lựa chọn và quản trị dòng vốn chất lượng cao. Việc lồng ghép Nghị quyết vào Chương trình Trung cấp lý luận chính trị vì vậy cần được thực hiện theo hướng gắn quan điểm của Đảng với các vấn đề cụ thể của quản trị địa phương.
Thông qua những bài học về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý hoạt động kinh tế ở cơ sở, giảng viên có thể giúp học viên nhận thức đầy đủ vai trò, đóng góp và giới hạn của FDI; xây dựng tư duy lựa chọn nhà đầu tư; nâng cao năng lực giám sát dự án; đồng thời phản bác có cơ sở các quan điểm sai trái, xuyên tạc. Hiệu quả lồng ghép chỉ được bảo đảm khi trích dẫn Nghị quyết đi cùng phân tích, số liệu đi cùng bình luận và kiến thức lý luận được chuyển thành tình huống, tiêu chí, kỹ năng quản trị có thể vận dụng trong thực tiễn công tác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 80-81.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 179.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 197.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 321.
6. ASEAN (2025), ASEAN Investment Report 2025.
7. Tổng cục Thống kê (2026), Niên giám thống kê Việt Nam 2024.
8. Viện Kinh tế - Tài chính, Bộ Tài chính (2026), “Nhìn lại độ mở của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2025”.
9. Báo Tin tức (2026), “Nghị quyết 10-NQ/TW: Tư duy mới về FDI - Lời đáp trả cho những hoài nghi vô căn cứ”.
10. Tạp chí Công Thương (2023), “Techtronic Industries (TTI) đạt kết quả kinh doanh vững chắc sau 5 năm hoạt động tại Việt Nam”.
11. VCCI (2026), “Samsung Việt Nam tiếp tục là cứ điểm lợi nhuận của tập đoàn Hàn Quốc”.
12. VCCI (2026), “Tập đoàn LG: Hành trình mở rộng đầu tư và doanh số hàng tỷ USD ở Việt Nam”.
13. VnEconomy (2025), “Vốn FDI thực hiện năm 2025 lập kỷ lục cao nhất trong vòng 5 năm”.
14. VnEconomy (2026), “Honda Việt Nam duy trì vị thế ‘cây đại thụ’ trước sức ép từ xe điện và giá nhiên liệu”.
15. VnEconomy (2026), “Sau 20 năm, Intel Products Việt Nam cán mốc xuất khẩu 110 tỷ USD”.