VẬN DỤNG NGHỊ QUYẾT 79-NQ/TW NGÀY 06/01/2026 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHÀ NƯỚC VỚI VAI TRÒ KIẾN TẠO, ĐỊNH HƯỚNG, DẪN DẮT NỀN KINH TẾ VÀO GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY
Nguyễn Đình Minh
Khoa Nhà nước và Pháp luật
Tóm tắt: Ngày 6/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước đã khẳng định sứ mệnh, vai trò kiến tạo tăng trưởng của kinh tế nhà nước. Đây là bước đột phá về tư duy qua quá trình tổng kết thực tiễn hơn 4 thập kỷ thực hiện công cuôc đổi mới. Giảng viên giảng dạy lý luận chính trị phải nghiên cứu, quán triệt đầy đủ và vận dụng vào bài giảng phù hợp để nâng cao chất lượng đào tạo.
Từ khóa: Kinh tế nhà nước, chủ đạo, kiến tạo, động lực tăng trưởng
1. Đặt vấn đề
Thực tiễn trải qua hơn 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đã minh chứng cho sự lớn mạnh của khu vực kinh tế nhà nước, ngày càng thể hiện rõ nét hơn vai trò trụ cột, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào các quan hệ kinh tế quốc tế, kinh tế Việt nam trở thành một trong những mắc xích quan trọng của chuỗi cung ứng toàn cầu, những cơ hội, thách thức đan xen thì kinh tế nhà nước đã phát huy đầy đủ sứ mệnh giảm thiểu những bất ổn từ những sự va đập, những cú sốc do ảnh hưởng bởi sự đứt gãy chuỗi cung ứng. 40 năm đổi mới cũng là quá trình hoàn thiện, bổ sung những luận điểm mới về mặt lý luận đối với vai trò của kinh tế nhà nước trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng” [5]
Nghị quyết số 79-NQ/TW ra đời là sự tổng kết về mặt lý luận lẫn thực tiễn, khẳng định tính tất yếu khách quan của thành phần kinh tế nhà nước với vai trò bà đỡ, trụ cột, kiến tạo, dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế phát triển.
2. Quá trình hoàn thiện nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước sau 40 đổi mới từ Đại hội VI đến Nghị quyết 79-NQ/TW
Đại hội VI bắt đầu công cuộc đổi mới kinh tế với nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó không dùng khái niệm kinh tế nhà nước mà sử dụng khái niệm kinh tế quốc doanh: "Trong những năm trước mắt, để tiến hành vững chắc công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát huy tác dụng tích cực của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, điều quan trọng nhất là củng cố và phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa, trước hết là làm cho kinh tế quốc doanh thật sự giữ vai trò chủ đạo, chi phối được các thành phần kinh tế khác" [2]
Đến Đại hội VII năm 1991, tiếp tục phát triển nền kinh tế hàng hóa với vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh: "Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng." [3]
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, thuật ngữ “kinh tế nhà nước” được sử dụng thống nhất và thay thế hoàn toàn cho khái niệm kinh tế quốc doanh. "Tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô"[4]
Đến Đại hội IX, X XI, XII, XIII, XIV: đều khẳng định quan điểm Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế.
Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là Nghị quyết riêng đối với thành phần kinh tế này, đã kịp thời bổ sung, hoàn thiện một cách đầy đủ, toàn diện, hệ thống những vị trí, vai trò mới của kinh tế nhà nước trên cơ sở kế thừa những thành quả về mặt lý luận và thực tiễn được nghiên cứu tổng kết trong thời gian vừa qua để phù hợp với yêu cầu, bối cảnh mới về phát triển kinh tế đất nước và những thay đổi trong xu hướng quản trị quốc gia hiện nay.
Theo đó, kinh tế nhà nước được nhìn nhận rộng hơn, không chỉ đơn thuần là doanh nghiệp nhà nước mà bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý. "Kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền tảng của kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm an ninh, quốc phòng..."[1]
Như vậy, có thể thây xác định vai trò rất quan trọng của kinh tế nhà nước, Nghị quyết xác định: "Kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia."
3. Thực tiễn thực hiện vai trò kiến tạo phát triển của kinh tế nhà nước trong giai đoạn vừa qua
Thứ nhất, vai trò trụ cột cho nền kinh tế.
Tính đến năm 2025, các doanh nhiệp nhà nước vẫn chiếm tỉ trọng cao trong sản xuất các sản phẩm thiết yếu như viễn thông, năng lượng, phân bón, hóa chất và hạ tầng tài chính… Đối với lĩnh vực năng lượng, các doanh nhiệp nhà nước cung cấp khoảng 87% sản lượng điện, hơn 84% thị phần bán lẻ xăng dầu, 100% thị phần khí thô và 70% thị phần khí hóa lỏng, đáp ứng 70% nhu cầu xăng dầu và 70 - 75% nhu cầu phân đạm. Xét về quy mô, các doanh nhiệp nhà nước không quá khác biệt với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Các doanh nhiệp nhà nước không quá bất lợi trong cạnh tranh và có xu hướng hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp tư nhân trong nước và ngoài nước. [14]
Với kết quả này, chúng ta có đủ tự tin để khẳng định vai trò trụ cột, chống đỡ trước những nguy cơ có thể tác động bất lợi đến nền kinh tế của kinh tế nhà nước nhất là các nguy cơ có tính phi truyền thống như thiên tai, dịch bệnh.
Với nguồn lực tạo ra của mình, kinh tế nhà nước có điều kiện để thực hiện vai trò đầu đầu, đầu tư vào những lĩnh vực khó, đòi hỏi nguồn vốn lớn như đổi mới công nghệ, xây dựng kết cấu hạ tầng, năng lượng, logistics. Những lĩnh vực tạo ra giá trị lan tỏa rất lớn để kéo theo các lĩnh vực khác và các thành phần kinh tế khác phát triển.
Vai trò trụ cột còn thể hiện rõ nét nhất trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, yêu cầu bảo đảm an ninh kinh tế, tự chủ về công nghệ, năng lượng, tài chính trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Một nền kinh tế nếu thiếu đi lực lượng nòng cốt đủ mạnh để dẫn dắt, điều tiết sẽ dễ rơi vào phụ thuộc, bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài. Vì vậy, việc củng cố và nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước không chỉ là vấn đề kinh tế thuần túy mà còn là yêu cầu chiến lược về chính trị, an ninh và phát triển bền vững. [7]
Thứ hai, tạo ra những giá trị lõi của động lực tăng trưởng mới
Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030: “Phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế; 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD”. [1]
Trong giai đoạn 2021-2026, các doanh nghiệp, tập đoàn nhà nước đã từng bước phát ra những xung động lực thiết kế lại mô hình tăng trưởng theo xu hướng mới của nền kinh tế trong kỷ nguyên số, trong đó, tập trung vào các tập đoàn nhà nước giữ vai trò dẫn dắt về năng lượng, công nghệ số, hạ tầng và tài chính. Cụ thể:
Bảng 1: Những giá trị lõi của động lực tăng trưởng mới do Doanh nghiệp nhà nước tạo ra

Văn kiện Đại hội XIV xác định: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” Qua số liệu trên cho thấy các doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn kinh tế đã bắt đầu có những đóng góp mang tính giá trị lõi của mô hình tăng trưởng mới. Tuy nhiên chặng đường phía trước còn dài và cần có những nỗ lực dài hạn.
Vì hiện nay, Việt Nam chưa có DNNN lọt vào danh sách Fortune Global 500 [15]. Các DNNN lớn như Viettel có doanh thu khoảng 12 - 15 tỉ USD/năm, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) đạt khoảng 10 tỉ USD/năm và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) khoảng 8 - 10 tỉ USD/năm. Trong khi đó, để hiện thực hóa mục tiêu có từ 1 - 3 DNNN góp mặt trong nhóm 500 doanh nghiệp toàn cầu, các DNNN Việt Nam cần đạt mức doanh thu tối thiểu khoảng 30 - 35 tỉ USD/năm. Điều này đồng nghĩa với việc doanh thu của các DNNN phải tăng gấp 2 - 3 lần trong giai đoạn 2030 - 2035, đòi hỏi tốc độ mở rộng quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh vượt trội. [14]
Thứ 3, vai trò định hướng phát triển toàn diện, đảm bảo sự bền vững
Một nội dung rất quan trọng của Nghị quyết số 79-NQ/TW khẳng định: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.
Kinh tế nhà nước tập trung vào các lĩnh vực tạo ra giá trị lớn, tạo ra không gian kinh tế cho các thành phần kinh tế khác phát triển. Dùng nguồn lực của mình để giải quyết các vấn đề xã hội, góp phầm đảm bảo an sinh xã hội. Ngoài ra kinh tế nhà nước có nhiệm vụ đầu tư vào các ngành mà tư nhân không thể đầu tư do tính chất công cộng của hàng hóa, dịch vụ.
Để đảm bảo phát triển toàn diện và bền vững, không chỉ là tăng trưởng 2 con số mà phải gắn với tăng trưởng xanh. Kinh tế nhà nước cần tập trung đầu tư sang lĩnh vực đáp ứng được yêu cầu này. Trong đó chú trọng đến năng lượng tái tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, logistic, hạ tầng giao thông, công nghiệp công nghệ cao...
4. Vận dụng nội dung Nghị quyết 79-NQ/TW trong giảng dạy lý luận chính trị góp phần nâng cao bản lĩnh học viên đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc và tăng khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn.
Việc quán triệt và vận dụng Nghị quyết số 79-NQ/TW trong giảng dạy lý luận chính trị có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao nhận thức của công chức, viên chức về vai trò và mối quan hệ của kinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế khác. Nhất là trong thời gian trước đó, khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân, trên các nền tảng mạng xã hội, trên nhiều diễn đàn núp bóng phân tích chính sách, không ít ý kiến cố tình đặt Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 ở hai cực đối lập không thể dung hợp nhau. Chúng lập luận rằng nếu xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất”, thì nhấn mạnh kinh tế nhà nước “chủ đạo” là “mâu thuẫn”; rằng Đảng đã không “nhất quán” ngay trong tư duy lãnh đạo và “lúng túng trong tư duy phát triển”; rằng Đảng “vừa muốn theo thị trường, vừa không dứt khỏi tư duy bao cấp” [8] …
Đại hội XIV đã xác định rất rõ: “Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”.
Khi giảng dạy, giảng viên phải quán triệt và làm rõ nội dung này để khẳng định quan điểm của Đảng là nhất quán, không phân biệt thành phần kinh tế nào, mỗi thành phần kinh tế đều có vai trò nhiệm vụ riêng, có mối quan hệ chặt chẽ trong một tổng thể thống nhất.
Đồng thời để có số liệu minh chứng cho những luận cứ trên, giảng viên bên cạnh giảng dạy lý thuyết về vai trò của kinh tế nhà nước, cần kết hợp với thực tiễn. Tổng hợp các số liệu để dẫn chứng cụ thể về những đóng góp của khuc vực kinh tế nhà nước nhất là đối với vai trò kiến tạo những giá trị lõi của động lực tăng trưởng mới, vai trò trụ cột của nền kinh tế, là bà đỡ cho nền kinh tế ổn định khi phải chịu ảnh hưởng bất lợi từ những diễn biến khó lường của nền kinh tế thế giới…
Trong mô hình đồng giảng, hai giảng viên thống nhất kịch bản, tổ chức giảng tại lớp vừa kết hợp lý thuyết, vừa đưa ra tình huống thảo luận, tổ chức tọa đàm lấy ý kiến của các học viên (đóng vai chuyên gia), cho học viên mạnh dạn nêu quan điểm của mình với vai trò là Lãnh đạo chính quyền cấp xã khi quyết định phương án xử lý trong tình huống có thể lựa chọn và đưa ra là: Lựa chọn nhà đầu tư là doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân khi có mong muốn đầu tư vào địa phương của mình (trong trường hợp không thuộc diện phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo luật đấu thầu) trong bối cảnh thực hiện mô hình quản trị toàn diện và kiến tạo phát triển ở cấp xã.
Cách tiếp cận này giúp cho học viên tăng khả năng tương tác, học tập tích cực hơn, tranh luận có chiều sâu, phát triển tư duy phản biện, hình thành khả năng phân tích chính sách, trực tiếp vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác của địa phương mình.
Đối với đội ngũ giảng viên trường Chính trị, tùy vào bài học thích hợp, quán triệt sâu sắc và truyền tải đúng đắn tinh thần Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị vừa là yêu cầu về mặt chuyên môn vừa đảm bảo thực hiện việc lồng ghép công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vào trong bài giảng. Đó là nhiệm vụ chính trị cơ bản của giảng viên. Có như vậy mới củng cố được niềm tin của học viên trước những luận điệu xuyên tạc, giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị có bản lĩnh vững vàng, không lung lay, dao động khi đối mặt với những quan điểm sai trái, thù địch. Để mỗi người là lá chắn sống bảo vệ chính mình và bảo vệ những người thân xung quanh mình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị (2005, 2026), Nghị quyết số 68/NQ-TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
6. Phạm Thị Thanh Bình, Lê Minh Tâm (2026), “Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong ổn định và tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng.
7. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2025), “Định vị vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước”, Báo Nhân Dân, truy cập tại: Báo Nhân Dân.
9. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2025), “Doanh nghiệp nhà nước tối ưu nguồn lực, kiến tạo tăng trưởng bền vững”, truy cập tại: Báo Điện tử Chính phủ.
10. Bộ Công Thương (2025), “Đề án cơ cấu lại Tập đoàn Điện lực Việt Nam giai đoạn đến hết năm 2025, phấn đấu doanh thu tăng trưởng 7–10%”, truy cập tại: Bộ Công Thương.
11. Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) (2025), “Viettel nộp ngân sách nhà nước hơn 44.300 tỷ đồng”, truy cập tại: Báo Điện tử Chính phủ.
12. Tạp chí Kinh tế Việt Nam (VnEconomy) (2025), “Viettel nộp 40,9 nghìn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước năm 2025”, truy cập tại: VnEconomy.
13. Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) (2025), “Doanh nghiệp nhà nước nộp gần 400 nghìn tỷ đồng vào ngân sách năm 2024, đẩy mạnh chuyển đổi số”, truy cập tại: PetroTimes.
14. Tạp chí Ngân hàng (2025), “Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong ổn định và tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, truy cập tại: Tạp chí Ngân hàng.
15. Fortune, Fortune Global 500 (Bảng xếp hạng thường niên 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới theo doanh thu).