HỒ CHÍ MINH – HUỲNH THÚC KHÁNG: TỪ TƯƠNG ĐỒNG MỤC TIÊU CỨU NƯỚC ĐẾN ĐỒNG HÀNH VÌ LỢI ÍCH DÂN TỘC
Ngày đưa:  13/10/2026 03:40:51 PM In bài
HỒ CHÍ MINH – HUỲNH THÚC KHÁNG: TỪ TƯƠNG ĐỒNG MỤC TIÊU CỨU NƯỚC ĐẾN ĐỒNG HÀNH VÌ LỢI ÍCH DÂN TỘC
 
ThS. Lê Thị Minh Phượng
GVC, Khoa Lý luận cơ sở
 
Tóm tắt: Mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Xuất phát từ hai thế hệ, với quá trình hoạt động và nền tảng tư tưởng khác nhau, hai nhân cách lớn đã gặp nhau ở lòng yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm trước vận mệnh quốc gia và mục tiêu bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Mối quan hệ mẫu mực ấy không chỉ minh chứng cho tinh thần dấn thân, tận tụy của Cụ Huỳnh, mà còn thể hiện một phương diện sâu sắc trong tư tưởng đại đoàn kết và nghệ thuật trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh: không lấy sự đồng nhất làm điều kiện của đoàn kết, biết tìm điểm tương đồng, tôn trọng sự khác biệt và quy tụ mọi lực lượng vì lợi ích tối cao của Tổ quốc.
 
Từ khóa: Hồ Chí Minh; Huỳnh Thúc Kháng; đại đoàn kết toàn dân tộc; lợi ích dân tộc; trọng dụng nhân tài; Quảng Ngãi.
 
Mở đầu
 
Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại, có những mối quan hệ được xác lập không bắt đầu từ sự tương đồng hoàn toàn về hệ tư tưởng hay con đường hoạt động, mà khởi nguồn từ sự gặp gỡ ở những giá trị căn bản nhất: Tổ quốc và Nhân dân. Mối quan hệ đồng chí, tri kỷ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng là một biểu tượng mẫu mực như thế.
 
Cụ Huỳnh Thúc Kháng thuộc thế hệ chí sĩ yêu nước đầu thế kỷ XX. Xuất thân từ truyền thống Nho học, Cụ sớm tiếp thu luồng gió mới của phong trào Duy Tân, dấn thân hoạt động trên nghị trường và trường văn trận bút thông qua tờ báo Tiếng Dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc thế hệ sau, sớm bôn ba tìm đường cứu nước, khảo nghiệm nhiều học thuyết và đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin con đường giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Giữa hai bậc tiền bối cách mạng có sự khác biệt rõ rệt về nền tảng tư tưởng, quá trình hình thành nhận thức chính trị và phương thức tổ chức lực lượng.
 
Tuy nhiên, sự khác biệt ấy không ngăn trở sự gặp gỡ lớn ở tinh thần vì nước, vì dân. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính điểm tương đồng thiêng liêng về mục tiêu giữ vững nền độc lập đã gắn kết hai con người vĩ đại, cùng kề vai gánh vác việc giang sơn trong thời điểm vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”.
 
1. Khác biệt điểm xuất phát, gặp gỡ ở lý tưởng phụng sự non sông
 
Cụ Huỳnh Thúc Kháng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và trưởng thành trong những giai đoạn lịch sử khác nhau với những dấu ấn tư tưởng riêng biệt. Cụ Huỳnh Thúc Kháng đỗ Tiến sĩ (Khoa thi năm Giáp Thìn - 1904), nhưng không chọn con đường vinh thân nơi chốn quan trường. Hòa mình vào phong trào Duy Tân, Cụ hăng hái cổ xướng tân học, đề cao phương châm “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, quyết liệt phê phán lối học từ chương lỗi thời. Ngay cả sau 13 năm chịu cảnh đày ải khốc liệt tại ngục tù Côn Đảo (1908 – 1921), khí tiết kiên trung của nhà chí sĩ xứ Quảng vẫn không lay chuyển. Cụ kiên quyết từ chối mọi sự mua chuộc của thực dân Pháp, tham gia Viện Dân biểu Trung Kỳ (1926) để đòi cải cách xã hội, giảm sưu thuế, mở mang dân trí. Khi thấy nghị trường bị thực dân thao túng, Cụ lập tức từ chức, sáng lập báo Tiếng Dân (1927 – 1943) tại Huế và dùng ngòi bút sắc bén làm vũ khí công khai đấu tranh cho quyền lợi đồng bào.
 
Trong khi đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chọn cho mình một hành trình hoàn toàn mới. Bắt đầu từ lòng yêu nước, đi qua thực tiễn đấu tranh, khảo nghiệm ở ba đại dương, bốn châu lục, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định luận điểm bất hủ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[1]. Hoạt động của Người vượt ra khỏi khuôn khổ đấu tranh cải lương hay nghị trường hợp pháp, hướng thẳng tới mục tiêu xây dựng lực lượng cách mạng có tổ chức, trước hết là một chính đảng vô sản tiền phong, trên cơ sở đó tổ chức và vũ trang quần chúng tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
 
Như vậy, nếu Cụ Huỳnh đi từ mạch nguồn sĩ phu yêu nước, cải cách xã hội và đấu tranh công khai, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, xây dựng lực lượng cách mạng toàn diện. Tuy khác biệt về thế hệ, về phương thức tổ chức đấu tranh và thế giới quan khoa học, nhưng cả hai đều chung một tấm lòng son sắt, dấn thân trọn đời vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân. Đó chính là điểm tựa tư tưởng vững chắc để hai người tìm thấy nhau giữa ngã rẽ của lịch sử.
 
2. Từ sự trân trọng đến niềm tin chính trị tuyệt đối và giao phó trọng trách quốc gia
 
Sau ngày độc lập (2/9/1945), nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đương đầu với muôn vàn hiểm họa: giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm. Trong bối cảnh thù trong giặc ngoài câu kết hòng bóp chết chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương đoàn kết toàn dân, mở rộng Chính phủ, trân trọng mời các nhân sĩ, trí thức tên tuổi tham gia gánh vác việc nước. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là bậc lão thành tiêu biểu được Người tha thiết mời ra giúp nước.
 
Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I (ngày 2/3/1946), khi giới thiệu danh sách Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trân trọng giới thiệu Cụ Huỳnh giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ với lời khẳng định: “Một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết”[2]. Cụ Huỳnh còn được tín nhiệm bầu làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Mặt trận Liên Việt), trở thành linh hồn trong việc quy tụ các tầng lớp nhân sĩ, trí thức và các lực lượng yêu nước. Việc một nhân sĩ Nho học, không phải đảng viên đảng cộng sản nắm giữ bộ máy nội chính của đất nước non trẻ là minh chứng hùng hồn cho nhãn quan chính trị sáng suốt và tư tưởng trọng dụng nhân tài vô tư, trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 
Đỉnh cao của sự tin cậy ấy diễn ra vào cuối tháng 5 năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận lời mời của Chính phủ Pháp sang Paris đàm phán. Người đã tin tưởng ủy thác cho Cụ Huỳnh Thúc Kháng đảm nhận Quyền Chủ tịch nước, điều hành toàn bộ công việc đối nội và đối ngoại của Chính phủ. Trước lúc lên đường, Người đã trao lại cho Cụ phương châm hành động mang tính nguyên tắc và biện chứng sâu sắc: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Không phụ sự ủy thác của Người, trong suốt gần 5 tháng Chủ tịch Hồ Chí Minh vắng mặt ở quốc nội, Cụ Huỳnh đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua nhiều cơn sóng dữ, vừa mềm mỏng hòa hoãn để tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, vừa kiên quyết chỉ đạo trấn áp các hoạt động chống phá của bọn phản cách mạng, tiêu biểu có vụ án ở phố Ôn Như Hầu (tháng 7/1946), giữ vững an ninh trật tự và vị thế của chính quyền non trẻ.
 
Ngày 23/10/1946, trong Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xúc động ghi nhận: “Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Cụ Huỳnh Quyền Chủ tịch, sự săn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ”[3]. Đó là sự ghi nhận công tâm, chân thành nhất giữa hai nhân cách lớn cùng chung nhịp đập vì nước, vì dân.
 
3. Phương châm đại đoàn kết: Tôn trọng khác biệt để cùng hướng về lợi ích tối cao của dân tộc
 
Mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cụ Huỳnh Thúc Kháng để lại bài học có giá trị trường tồn về nghệ thuật xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
 
Thực tế lịch sử cho thấy, đồng hành không nhất thiết phải xóa bỏ mọi dị biệt tư tưởng hay áp đặt sự đồng nhất. Cụ Huỳnh tham gia Chính phủ cách mạng với tư cách một nhân sĩ yêu nước, giữ trọn cốt cách trung trực của bậc đại khoa Nho học. Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ đòi hỏi Cụ Huỳnh hay các nhân sĩ yêu nước khác như cụ Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Võ Liêm Sơn… phải trở thành những người cộng sản mới được cộng tác. Trái lại, Người nhìn thấy ở họ ngọn lửa yêu nước nồng nàn, uy tín xã hội sâu rộng và sự liêm chính, tận tâm. Ở chiều ngược lại, Cụ Huỳnh nhận lời tham gia Chính phủ không phải để tìm kiếm chức tước, mà bởi Cụ tìm thấy ở Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân cách, đạo đức của một bậc đại nhân, đại trí, hiện thân cho tinh thần độc lập của dân tộc. Đồng thời thể hiện ý thức ý thức trách nhiệm thiêng liêng với non sông theo tinh thần “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Đúng như Cụ từng giãi bày: trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc. Cốt cách liêm chính ấy đã gặp gỡ và hòa cùng tấm lòng chí công vô tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo nên một sự đồng tâm tuyệt đối vì đại nghĩa dân tộc.
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiện thực hóa phương châm “cầu đồng tồn dị”, mẫusố chung lớn nhất để quy tụ lực lượng chính là độc lập cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho Nhân dân. Điểm quy tụ ấy lớn hơn mọi khác biệt về tôn giáo, giai cấp, thế hệ hay quá khứ chính trị. Người dạy rằng: “Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì cái dung lượng của nó rộng và sâu”[4]. Mối quan hệ Hồ Chí Minh – Huỳnh Thúc Kháng chính là biểu tượng sinh động cho dung lượng rộng lớn và sâu thẳm của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh.
 
4. Từ Thủ đô Hà Nội đến mảnh đất Quảng Ngãi: Trọn vẹn tấm lòng vì nước, vì dân
 
Hành trình cống hiến của Cụ Huỳnh Thúc Kháng không chỉ gắn liền với những quyết sách mang tính bản lề ở Thủ đô Hà Nội. Cuối năm 1946, trước nguy cơ cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử Cụ làm Đặc phái viên của Chính phủ vào kinh lý Nam Trung Bộ. Mặc dù tuổi cao sức yếu, Cụ vẫn hăng hái lên đường, đi qua nhiều địa phương để động viên đồng bào, hiệu triệu các tầng lớp nhân dân củng cố mặt trận đoàn kết kháng chiến kiến quốc.
 
Mảnh đất Quảng Ngãi kiên cường đã trở thành nơi Cụ đặt trụ sở làm việc (tại làng Phú Bình, xã Hành Phong, huyện Nghĩa Hành) và dành trọn những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng. Trước giờ phút lâm chung, bức điện ngày 14/4/1947 Cụ gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh chan chứa tình cảm son sắt: “Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, dân chủ cũng đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng… Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang, hạnh phúc. Chào vĩnh quyết”[5]. Ngày 21/4/1947, Cụ qua đời tại Quảng Ngãi trong khi đang thực hiện nhiệm vụ được giao, để lại một cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách cao cả. Cụ ra đi khi cuộc kháng chiến của dân tộc mới bước vào những năm đầu, nhưng những lời căn dặn cuối cùng vẫn hướng về sự đoàn kết và niềm tin vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào sự nghiệp kháng chiến của dân tộc.
 
Nhận được tin Cụ tạ thế, ngày 29/4/1947, trong niềm tiếc thương vô hạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho toàn thể đồng bào cả nước, khẳng định: “Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao…. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”[6]. Đồng thời kêu gọi: “theo gương dũng cảm, nối chí quật cường của cụ; … hoàn thành sự nghiệp cứu nước, cứu dân mà cụ đã ra sức đeo đuổi suốt đời”[7].
 
Thể theo di nguyện của Cụ và nguyện vọng của đồng bào, Cụ được an táng trọng thể trên đỉnh núi Thiên Ấn – biểu tượng non nước hùng thiêng của Quảng Ngãi. Mộ Cụ Huỳnh trên đỉnh Thiên Ấn từ đó đến nay không chỉ là một di tích lịch sử - văn hóa quốc gia đặc biệt thiêng liêng, mà còn là minh chứng bất tử cho sự gắn kết máu thịt giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Huỳnh Thúc Kháng và tấm lòng sắt son của đồng bào Quảng Ngãi đối với Đảng và cách mạng.
 
Kết luận
 
Nhìn lại mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cụ Huỳnh Thúc Kháng, chúng ta càng thấm thía chiều sâu nhân văn, tầm nhìn chiến lược trong tư tưởng đại đoàn kết và nghệ thuật dùng người, trọng dụng nhân tài của Người. Sự đồng hành giữa một nhà mácxít vĩ đại và một chí sĩ Nho học cấp tiến đã chứng minh một chân lý lịch sử: sức mạnh của dân tộc không đến từ sự rập khuôn, áp đặt, mà bắt nguồn từ sự thấu hiểu, trân trọng hiền tài, biết đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết.
 
Đối với Đảng bộ và Nhân dân Quảng Ngãi, nơi Cụ Huỳnh trọn đời cống hiến đến hơi thở cuối cùng và là nơi cụ yên nghỉ vĩnh hằng, bài học lịch sử ấy càng mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Khắc ghi tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và noi gương sáng tận hiến của Cụ Huỳnh, việc khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, trọng dụng nhân tài và xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” chính là động lực then chốt để xây dựng quê hương Núi Ấn – Sông Trà ngày càng giàu đẹp, văn minh, nghĩa tình.
 
Tài liệu tham khảo
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 140 năm Ngày sinh Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 – 01/10/2016), Hà Nội.
 
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2026), Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 – 01/10/2026), Hà Nội.
 
3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2016), Huỳnh Thúc Kháng với cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam (Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
 
4. Hồ Chí Minh (2021): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 4.
 
5. Hồ Chí Minh (2021): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 5.
 
6. Hồ Chí Minh (2021): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 6.
 
7. Hồ Chí Minh (2021): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 12



[1] Hồ Chí Minh (2021): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 12, tr.30
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tập 4, tr.221
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tập 4, tr.463
[4] Hồ Chí Minh (2021): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 6, tr.128
[5] Xem: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Tỉnh ủy Quảng Nam (2016), Huỳnh Thúc Kháng với cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam (Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia kỷ niệm 140 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[6] Hồ Chí Minh (2021): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 5, tr.138
[7] Hồ Chí Minh (2021): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 5, tr.139

Bản quyền ©2020 Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi