| NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI | |
| Ngày đưa: 18/09/2026 03:58:37 PM |
|
| |
|
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
Phan Thị Thuý Hiển
ThS, GVC Khoa Nhà nước và pháp luật Tóm tắt: Giám sát, phản biện xã hội là phương thức quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn tại Quảng Ngãi, bài viết phân tích kết quả, những hạn chế và nguyên nhân trong tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp về lựa chọn vấn đề, nâng cao năng lực đội ngũ, trách nhiệm giải trình, chuyển đổi số, phối hợp và hoàn thiện cơ chế thực hiện.
Từ khóa: Giám sát xã hội; phản biện xã hội; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; quyền làm chủ của Nhân dân; Quảng Ngãi
1. Một số vấn đề chung về công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Giám sát, phản biện xã hội là những phương thức quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước.
Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện thông qua việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc thống nhất với các tổ chức thành viên theo dõi, xem xét, đánh giá và kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật. Thông qua giám sát, Mặt trận không chỉ phát hiện những hạn chế, khuyết điểm, sai phạm để kiến nghị xử lý mà còn có thể nhận diện những vấn đề bất cập trong chính sách, pháp luật, đồng thời phát hiện, phản ánh và nhân rộng những nhân tố mới, cách làm hiệu quả trong thực tiễn.
Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập trung vào việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến và kiến nghị đối với các dự thảo văn bản của cơ quan nhà nước, bao gồm dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án. Đối tượng chủ yếu của phản biện xã hội vì vậy là những dự thảo chính sách, văn bản và quyết định có tác động đến đời sống xã hội trước khi được ban hành hoặc quyết định. Nội dung phản biện tập trung vào sự cần thiết, sự phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tính đúng đắn, khoa học, khả thi; tác động và hiệu quả về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; cũng như khả năng bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, Nhân dân và các tổ chức.
Mối quan hệ giữa giám sát và phản biện
Nếu giám sát chủ yếu hướng vào quá trình thực hiện, thì phản biện xã hội chủ yếu hướng vào quá trình hình thành và hoàn thiện chính sách, văn bản. Giám sát giúp nhận diện những vấn đề phát sinh trong thực tiễn thực hiện chính sách, pháp luật; phản biện xã hội góp phần nhận diện và xử lý những vấn đề còn chưa phù hợp ngay từ quá trình xây dựng chính sách, văn bản. Vì vậy, hai hoạt động không tồn tại biệt lập mà bổ sung cho nhau: thực tiễn từ giám sát cung cấp cơ sở quan trọng cho phản biện; ngược lại, những ý kiến phản biện có chất lượng góp phần nâng cao tính đúng đắn, khả thi của chính sách và tạo cơ sở thuận lợi cho việc giám sát quá trình thực hiện sau khi chính sách được ban hành.
Xét về bản chất, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận mang tính đại diện xã hội, dân chủ và xây dựng, là phương thức tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân, tạo điều kiện để Nhân dân tham gia theo dõi, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật và góp ý xây dựng chính sách. Hoạt động này không mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua theo dõi, đánh giá, nhận xét, nêu chính kiến và kiến nghị, không thay thế chức năng quản lý, quyết định của cơ quan nhà nước.
Giám sát, phản biện xã hội đồng thời mang tính khoa học và thực tiễn, trong đó giám sát dựa trên thông tin, phản ánh từ thực tiễn; phản biện dựa trên cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn để đánh giá tính đúng đắn, khả thi và tác động của chính sách, dự thảo. Vì vậy, việc huy động chuyên gia, nhà khoa học và những người có kinh nghiệm thực tiễn có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng hoạt động. Tính xây dựng được thể hiện ở mục tiêu phát hiện hạn chế, kiến nghị khắc phục và cung cấp thêm căn cứ để hoàn thiện chính sách, thay vì phủ định hoặc cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức.
Từ đó, lựa chọn đúng vấn đề là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả giám sát, phản biện xã hội. Nội dung cần có trọng tâm, xuất phát từ chương trình công tác, phản ánh, kiến nghị của Nhân dân, những vấn đề dư luận quan tâm và các bất cập phát sinh trong thực tiễn, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Việc lựa chọn phù hợp với từng cấp, địa bàn và mức độ tác động sẽ hạn chế dàn trải, chồng chéo và nâng cao tính thực chất của hoạt động.
Như vậy, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hai phương thức có tính độc lập tương đối nhưng thống nhất về mục tiêu và bản chất.
2. Thực tiễn công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua
Quảng Ngãi là địa bàn có không gian phát triển rộng, dân cư phân bố không đồng đều và có sự đa dạng về điều kiện kinh tế, xã hội, dân tộc, tôn giáo. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh có 96 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 09 phường, 86 xã và 01 đặc khu, với 1.710 thôn, tổ dân phố; trong đó có 1.085 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 561 thôn đặc biệt khó khăn. Đồng bào dân tộc thiểu số có gần 542.000 người, chiếm khoảng 25% dân số; các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận có gần 500.000 tín đồ.
Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục có bước phát triển tích cực. Năm 2025, quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành ước đạt gần 192 nghìn tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 10,02%. Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng đặt ra không ít vấn đề liên quan đến quản lý đất đai, đầu tư, hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển sản xuất và tổ chức vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Những vấn đề này không chỉ tác động đến quản lý và phát triển kinh tế - xã hội mà còn tạo ra những nội dung cần được Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội quan tâm trong giám sát, phản biện và tập hợp ý kiến Nhân dân.
Thực tiễn cho thấy công tác giám sát trên địa bàn tỉnh từng bước chuyển từ việc triển khai theo chương trình định kỳ sang chú trọng hơn những vấn đề gắn với quyền, lợi ích và đời sống của Nhân dân. Đặc biệt là thực hiện theo Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội năm 2013[1]. Trong giai đoạn 2013-2026, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã thực hiện 6.566 cuộc giám sát với hơn 823 nội dung. Các vấn đề được lựa chọn tương đối đa dạng, tập trung vào chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, quản lý đất đai, bảo vệ rừng, thực hiện dân chủ ở cơ sở, tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, chính sách đối với người có công, hộ nghèo, hộ cận nghèo, bình đẳng giới, công tác cán bộ và thực hiện quyền, trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân. Việc lựa chọn những nội dung này cho thấy giám sát của Mặt trận ngày càng gắn với những vấn đề phát sinh từ thực tiễn và những nội dung được Nhân dân, dư luận xã hội quan tâm.
Cùng với hoạt động giám sát của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ chế giám sát ở cơ sở tiếp tục được phát huy thông qua Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng. Hai thiết chế này đã thực hiện trên 6.900 cuộc giám sát, tập trung vào việc giải quyết phản ánh, kiến nghị của công dân và việc triển khai các công trình, dự án, nhất là những công trình sử dụng ngân sách nhà nước hoặc nguồn lực đóng góp của Nhân dân. Kết quả giám sát được tổng hợp, chuyển đến cấp ủy, chính quyền và cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Điều này cho thấy giám sát của Mặt trận không chỉ diễn ra ở tỉnh, cấp xã mà còn được kết nối với cơ chế giám sát trực tiếp của cộng đồng, qua đó tăng khả năng phản ánh những vấn đề cụ thể từ cơ sở.
Một điểm đáng chú ý là kết quả giám sát đã bước đầu được chuyển hóa thành kiến nghị đối với cơ quan có thẩm quyền. Sau giám sát, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Thường vụ các tổ chức chính trị - xã hội có văn bản kiến nghị gửi cơ quan chức năng nghiên cứu, giải quyết những khó khăn, vướng mắc được phát hiện. Tuy nhiên, chính ở khâu sau giám sát này cũng bộc lộ yêu cầu cần tiếp tục nâng cao chất lượng theo dõi, đôn đốc và đánh giá kết quả giải quyết kiến nghị, bởi hiệu quả của giám sát không chỉ nằm ở việc phát hiện vấn đề mà còn ở mức độ chuyển hóa kiến nghị thành kết quả thực tế.
Trong hoạt động phản biện xã hội, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã tổ chức 2.285 hội nghị phản biện xã hội và tham gia phản biện bằng văn bản đối với 4.002 dự thảo liên quan đến quy hoạch, kế hoạch, nghị quyết, chương trình và đề án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nội dung phản biện bao quát nhiều lĩnh vực, từ tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển công nghiệp, quy hoạch, giảm nghèo, cải cách hành chính, du lịch, xã hội hóa trong giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao đến quản lý đất đai và bố trí dân cư, như các đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp, điều chỉnh địa giới hành chính, sản phẩm OCOP, phòng ngừa, ứng phó bạo lực trên cơ sở giới; các quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050, quy hoạch chi tiết các khu bảo tồn dự trữ thiên nhiên ở Ba Tơ, Trà Bồng; kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo; các nghị quyết về khuyến khích xã hội hoá trong một số lĩnh vực, về đẩy mạnh phát triển du lịch, cải cách hành chính… Qua đó, phản biện xã hội từng bước được gắn với những vấn đề có tác động đến định hướng phát triển và đời sống xã hội của địa phương.
Chất lượng phản biện được chú trọng thông qua việc lựa chọn thành phần tham gia theo chuyên môn và lĩnh vực của nội dung được phản biện. Các chuyên gia, thành viên hội đồng tư vấn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh có chuyên môn và kinh nghiệm được huy động tham gia, góp phần tăng tính chuyên sâu của ý kiến phản biện. Sau các hội nghị, ý kiến được tổng hợp và chuyển đến cơ quan chức năng; nhiều kiến nghị được tiếp thu, góp phần hoàn thiện văn bản theo hướng đồng bộ, phù hợp và khả thi hơn trong thực tiễn.
Những kết quả trên cho thấy công tác giám sát, phản biện xã hội đã hình thành được mạng lưới hoạt động tương đối rộng, từ cấp tỉnh đến cơ sở, đồng thời ngày càng hướng vào những vấn đề có liên quan trực tiếp đến đời sống Nhân dân. Tuy nhiên, quy mô hoạt động chưa đồng nghĩa với chất lượng và tác động thực chất. Một số cán bộ làm công tác giám sát, phản biện còn hạn chế về năng lực chuyên môn và sự mạnh dạn trong phản biện; phạm vi, chất lượng phản biện ở một số lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là việc đánh giá tác động chính sách đối với các vùng miền và nhóm xã hội khác nhau. Ở một số nơi, sự tham gia góp ý của Nhân dân còn hình thức, tâm lý e ngại vẫn tồn tại; việc theo dõi, đôn đốc giải quyết kiến nghị sau giám sát và việc tiếp thu, phản hồi sau phản biện có lúc chưa sâu sát.
Những hạn chế này trước hết liên quan đến yêu cầu ngày càng cao về năng lực chuyên môn, kiến thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ thực hiện công tác Mặt trận. Giám sát và phản biện đối với những vấn đề phức tạp đòi hỏi khả năng phân tích chính sách, đánh giá tác động, nhận diện lợi ích của các nhóm xã hội và hình thành kiến nghị có căn cứ. Trong khi đó, năng lực của một bộ phận cán bộ chưa đồng đều; tính chủ động, sáng tạo trong tham mưu và tổ chức thực hiện ở một số đơn vị còn hạn chế.
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trước hết, cần tiếp tục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đối với vị trí, vai trò của giám sát, phản biện xã hội. Cần tăng cường công khai, minh bạch thông tin về các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án và những vấn đề có tác động trực tiếp đến đời sống Nhân dân, tạo cơ sở để Nhân dân tham gia giám sát và góp ý ngay từ quá trình chuẩn bị, thay vì chỉ phản ánh khi vấn đề đã phát sinh. Cùng với nâng cao nhận thức, cần đổi mới cách lựa chọn nội dung giám sát, phản biện theo hướng đúng vấn đề, đúng đối tượng và có khả năng tạo chuyển biến. Trọng tâm nên hướng vào những chính sách, chương trình, dự án có tác động rộng, những lĩnh vực dễ phát sinh bất cập và những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
Một yêu cầu có tính quyết định là nâng cao năng lực của đội ngũ thực hiện công tác Mặt trận. Cần quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí cán bộ có bản lĩnh chính trị, tư duy độc lập, khả năng phân tích, tổng hợp và đánh giá chính sách, đồng thời chú trọng cán bộ trẻ có năng lực. Đồng thời, cần phát huy thường xuyên hơn đội ngũ chuyên gia, trí thức, thành viên hội đồng tư vấn, tổ tư vấn và những người có chuyên môn phù hợp với từng lĩnh vực để nâng cao tính khoa học và chiều sâu của phản biện xã hội.
Hiệu quả giám sát, phản biện cũng cần được gắn chặt hơn với cơ chế đối thoại và trách nhiệm giải trình. Các cuộc đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân cần thực chất, gắn với việc giải quyết những vấn đề được nêu ra sau đối thoại. Đối với kiến nghị từ giám sát, phản biện và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm tiếp nhận, thời hạn phản hồi và cơ chế theo dõi kết quả.
Trong điều kiện chuyển đổi số, cần từng bước hình thành phương thức tiếp nhận, tổng hợp và theo dõi ý kiến Nhân dân trên nền tảng số. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung về kiến nghị, phản ánh, nội dung giám sát, kết quả xử lý và tình trạng tiếp thu có thể giúp Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội theo dõi vấn đề liên tục, hạn chế bỏ sót hoặc kéo dài kiến nghị.
Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan, tổ chức được giám sát, phản biện. Chính quyền và các cơ quan hữu quan cần bảo đảm điều kiện để Mặt trận thực hiện nhiệm vụ, cung cấp thông tin cần thiết, tiếp nhận và phản hồi kiến nghị theo quy định. Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động, thẳng thắn trong nêu vấn đề nhưng đồng thời bảo đảm tính khách quan, có căn cứ và tính xây dựng của kiến nghị.
Về lâu dài, cần nghiên cứu tích hợp các nội dung của Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW trong một quy định thống nhất, phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Theo hướng đó, cơ chế mới cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được giám sát, phản biện trong việc tiếp nhận, giải trình và phản hồi; xác định thời hạn trả lời và cơ chế theo dõi việc thực hiện kiến nghị. Đồng thời, cần quy định rõ hơn phương thức xử lý đối với trường hợp chậm phản hồi, phản hồi không đầy đủ hoặc tiếp thu mang tính hình thức; bổ sung cơ chế bảo vệ thông tin cần thiết và khuyến khích cán bộ, đoàn viên, hội viên, Nhân dân tham gia góp ý, phản biện, qua đó giảm tâm lý e ngại trong quá trình tham gia.
Đặc biệt, việc hoàn thiện thể chế cần đồng thời cập nhật yêu cầu chuyển đổi số, mở rộng các phương thức để Nhân dân tham gia, nhưng phải gắn với cơ chế xác thực, bảo đảm an toàn thông tin và nâng cao chất lượng xử lý dữ liệu.
Cuối cùng, cần tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội ở các cấp, tạo chuyển biến từ tư duy coi trọng “đầu vào” của hoạt động sang coi trọng “kết quả và tác động”, phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng thực chất của công tác giám sát, phản biện xã hội trong giai đoạn mới.
-----
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (2013), Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội.
2. Bộ Chính trị (2013), Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 về Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
3. Văn phòng Quốc hội (2025), Văn bản hợp nhất số 89/VBHN-VPQH ngày 22/8/2025: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
4. Tỉnh uỷ Quảng Ngãi (2026), Báo cáo tổng kết thực hiện các Quyết định số 217, 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị (khoá XI) về “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” và “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hộI và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”.
5. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2023), Tài liệu hướng dẫn Kỹ năng giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
| |
|
Bản quyền ©2020 Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi | |